Năm 2027, tuổi nghỉ hưu tăng lên 61 tuổi 9 tháng với nam và 57 tuổi 4 tháng với nữ, còn lương tối thiểu vùng dự kiến tăng bình quân 7,8%.
Từ năm 2027, tuổi nghỉ hưu tiếp tục tăng
Năm 2027, tuổi nghỉ hưu của người lao động làm việc trong điều kiện bình thường tiếp tục tăng theo lộ trình quy định tại Nghị định số 135/2020/NĐ-CP. Cụ thể, tuổi nghỉ hưu của lao động nam trong năm 2027 là 61 tuổi 9 tháng, tăng 3 tháng so với mức 61 tuổi 6 tháng của năm 2026. Đối với lao động nữ, tuổi nghỉ hưu năm 2027 là 57 tuổi 4 tháng, tăng 4 tháng so với năm trước.

Theo lộ trình hiện hành, tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh mỗi năm thêm 3 tháng đối với nam và 4 tháng đối với nữ. Lao động nam sẽ đạt mốc 62 tuổi từ năm 2028, trong khi lao động nữ đạt 60 tuổi vào năm 2035.
Tuổi nghỉ hưu nêu trên không đồng nghĩa tất cả người lao động sinh cùng một năm đều nghỉ việc vào cùng thời điểm. Tháng, năm nghỉ hưu cụ thể còn phụ thuộc vào ngày tháng năm sinh và thời điểm người lao động đủ tuổi theo phụ lục ban hành kèm Nghị định số 135.
Người lao động có thể đối chiếu bảng tra cứu theo năm sinh để xác định thời điểm nghỉ hưu và thời điểm bắt đầu hưởng lương hưu. Việc xác định chính xác mốc này giúp người tham gia chủ động tính thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu và chuẩn bị hồ sơ hưởng chế độ hưu trí.
Lộ trình trên áp dụng với người làm việc trong điều kiện bình thường. Pháp luật vẫn quy định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nếu đáp ứng điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tính chất công việc hoặc tình trạng sức khỏe.
Trong đó, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; khai thác than trong hầm lò hoặc bị suy giảm khả năng lao động có thể được xem xét nghỉ hưu sớm theo từng trường hợp.
Lương tối thiểu vùng dự kiến tăng bình quân 7,8%
Cùng với lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu, Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến dự thảo nghị định điều chỉnh mức lương tối thiểu đối với người làm việc theo hợp đồng lao động từ ngày 1/1/2027.
Theo phương án dự thảo, mức lương tối thiểu tháng bình quân tăng 7,8% so với mức đang áp dụng, tương ứng tăng từ 310.000 đồng đến 390.000 đồng tùy vùng. Phương án này được xây dựng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia và sẽ được trình Chính phủ xem xét.
Cụ thể, mức tối thiểu tại vùng I được đề xuất tăng từ 5,31 triệu đồng lên 5,7 triệu đồng mỗi tháng, cao hơn 390.000 đồng, tương ứng khoảng 7,34%.
Vùng II dự kiến tăng từ 4,73 triệu đồng lên 5,08 triệu đồng, thêm 350.000 đồng, tương ứng khoảng 7,4%.
Tại vùng III, mức đề xuất là 4,45 triệu đồng mỗi tháng, tăng 310.000 đồng so với mức 4,14 triệu đồng hiện hành, tương ứng khoảng 7,49%.
Vùng IV được đề xuất tăng từ 3,7 triệu đồng lên 4,04 triệu đồng mỗi tháng. Mức tăng tuyệt đối là 340.000 đồng, tương ứng khoảng 9,19%.
Như vậy, xét theo tỷ lệ, vùng IV có mức tăng cao nhất. Tuy nhiên, xét theo số tiền tuyệt đối, vùng I được đề xuất tăng nhiều nhất với 390.000 đồng mỗi tháng.
Dự thảo cũng điều chỉnh mức lương tối thiểu theo giờ. Theo đó, vùng I dự kiến tăng từ 25.500 đồng lên 27.400 đồng mỗi giờ; vùng II từ 22.700 đồng lên 24.400 đồng; vùng III từ 20.000 đồng lên 21.400 đồng và vùng IV từ 17.800 đồng lên 19.400 đồng mỗi giờ.
Mức lương tối thiểu là ngưỡng thấp nhất làm cơ sở để người lao động và doanh nghiệp thỏa thuận, trả lương theo công việc hoặc chức danh trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc theo quy định và hoàn thành định mức công việc.
Doanh nghiệp không được dùng mức mới làm căn cứ cắt giảm các khoản tiền lương hoặc quyền lợi đã được thỏa thuận nếu tổng mức đang trả cao hơn. Các khoản phụ cấp, thưởng và chế độ khác tiếp tục được thực hiện theo hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và quy chế của đơn vị.
Khi mức tối thiểu thay đổi, những lao động đang nhận lương thấp hơn ngưỡng mới thuộc địa bàn tương ứng sẽ phải được điều chỉnh. Với người đã nhận cao hơn mức tối thiểu, tiền lương không mặc nhiên tăng đúng bằng tỷ lệ 7,8%, trừ khi hợp đồng hoặc thỏa thuận của doanh nghiệp có quy định.
Việc tăng mức sàn cũng có thể tác động đến tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội trong trường hợp mức đóng hiện tại thấp hơn ngưỡng mới. Tuy nhiên, mức hưởng lương hưu không được tính trực tiếp chỉ từ lương tối thiểu vùng mà còn phụ thuộc thời gian tham gia và mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của từng người.
Một nội dung đã có lộ trình, một nội dung vẫn là đề xuất
Hai thay đổi liên quan đến người lao động từ năm 2027 đang có trạng thái pháp lý khác nhau.
Tuổi nghỉ hưu 61 tuổi 9 tháng đối với nam và 57 tuổi 4 tháng đối với nữ là mốc đã được xác định trong Nghị định số 135/2020/NĐ-CP và sẽ áp dụng theo lộ trình hiện hành.
Trong khi đó, các mức 5,7 triệu đồng, 5,08 triệu đồng, 4,45 triệu đồng và 4,04 triệu đồng mới là phương án được nêu trong dự thảo nghị định. Tại thời điểm lấy ý kiến, đây chưa phải mức chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.
Hội đồng Tiền lương quốc gia đã thống nhất khuyến nghị mức tăng bình quân 7,8%, nhưng phương án vẫn cần được Chính phủ xem xét và ban hành bằng nghị định trước khi áp dụng.
Người lao động và doanh nghiệp vì vậy cần theo dõi văn bản chính thức để xác định mức áp dụng tại từng địa bàn, đặc biệt trong trường hợp có sự điều chỉnh lại danh mục vùng.
Doanh nghiệp cũng cần rà soát hợp đồng lao động, thang bảng lương và mức đóng bảo hiểm xã hội của những người đang nhận lương sát ngưỡng tối thiểu. Người lao động nên kiểm tra địa bàn làm việc thuộc vùng nào, thay vì xác định theo nơi thường trú.
Với người sắp đến tuổi nghỉ hưu, việc tăng mức lương tối thiểu không đồng nghĩa lương hưu sẽ tự động tăng tương ứng. Quyền lợi hưu trí vẫn được xác định theo pháp luật bảo hiểm xã hội, dựa trên thời gian đóng và mức tiền lương làm căn cứ đóng của từng trường hợp.