Giá lúa gạo hôm nay 24/7/2026 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ít biến động so với phiên trước. Mặt bằng giá của nhiều chủng loại lúa và gạo tiếp tục duy trì ổn định, trong khi hoạt động thu mua và tiêu thụ diễn ra bình thường.
Thị trường lúa gạo bước vào phiên giao dịch cuối tuần với trạng thái cân bằng khi nguồn cung và nhu cầu không có nhiều thay đổi. Các thương lái vẫn duy trì hoạt động thu mua theo nhu cầu thực tế, còn nông dân theo dõi sát diễn biến giá để lựa chọn thời điểm bán phù hợp.

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay dao động ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 9.700 - 9.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.900 - 8.300 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.300 - 8.400 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.900 - 8.050 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, hiện giá gạo thơm Jasmine hôm nay tăng 1.000 đồng/kg, dao động ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; giá gạo Đài thơm dao động 15.000 - 15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 2 2.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp đi ngang, không ghi nhận biến động so với phiên trước. Theo đó, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Với mặt hàng lúa, giá lúa tươi Đài Thơm 8 hôm nay dao động ở mốc 6.850 - 7.000 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 6.200 - 6.400 đồng/kg; lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.800 - 7.000 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 6.100 - 6.300 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, giao dịch lúa mới chậm, thương lái có xu hướng cho giá lúa giảm. Tại An Giang, nhu cầu đầu tuần có khá, giao dịch mua bán khởi sắc hơn, giá lúa tươi vững. Tại Đồng Tháp, giá lúa có xu hướng giảm, thương lái hỏi mua ít. Tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, nông dân neo giá cao, thương lái hỏi mua mới ít, giá lúa các loại tương đối ổn định.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đứng giá so với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 546 - 550 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 500 - 510 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 353 - 357 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 445 - 449 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động từ 390 - 394 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm dao động ở mức 361 - 365 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động 290 - 294 USD/tấn./.
Khảo sát tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy giá thu mua nhiều loại lúa tươi gần như không thay đổi so với ngày trước đó.
Nguồn cung từ các vùng thu hoạch vẫn đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường, trong khi doanh nghiệp và thương lái tiếp tục thu mua với nhịp độ ổn định. Nhờ đó, mặt bằng giá lúa chưa xuất hiện biến động đáng kể.
Đối với mặt hàng gạo, giá của nhiều chủng loại tiếp tục đi ngang.
Hoạt động giao dịch giữa doanh nghiệp, thương lái và các cơ sở kinh doanh diễn ra ổn định, chưa ghi nhận biến động lớn về nhu cầu tiêu thụ. Mức giá hiện tại được đánh giá phù hợp với diễn biến cung – cầu trên thị trường.
Trong ngắn hạn, giá lúa gạo được dự báo sẽ tiếp tục dao động trong biên độ hẹp do cung – cầu vẫn khá cân bằng.
Người trồng lúa được khuyến nghị theo dõi sát diễn biến thị trường, đồng thời chú trọng chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường xuất khẩu.
Tính đến ngày 24/7/2026, giá lúa và gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ít biến động, với hoạt động giao dịch diễn ra ổn định. Thị trường trong thời gian tới sẽ tiếp tục chịu tác động từ tiến độ thu hoạch, nhu cầu xuất khẩu và diễn biến cung – cầu trên thị trường trong và ngoài nước.