Lãi suất tiền gửi ngày 14/10 chứng kiến sự phân hóa giữa các ngân hàng ở những kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Trọng tâm cạnh tranh hiện dồn về các kỳ hạn trung và dài hạn, với sự xuất hiện của nhiều mức lãi suất vượt trội từ nhóm ngân hàng thương mại cổ phần.

VPBank dẫn đầu lãi suất kỳ hạn dài
Kỳ hạn 18 tháng đang ghi nhận mức sinh lời hấp dẫn nhất bảng khảo sát, với sự bứt phá của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank). Nhà băng này đang niêm yết mức cao nhất 7,9%/năm, tạo khoảng cách khá xa lên đến 0,4 điểm phần trăm so với ngân hàng Sacombank với 7,5%/năm.
Mức lãi suất 7,9%/năm được VPBank áp dụng cho một số nhóm sản phẩm tiền gửi chọn lọc, bao gồm Tiền gửi trực tuyến có kỳ hạn thường, Tiền gửi Hũ mục tiêu, Tiền gửi Thịnh vượng linh hoạt và Tiền gửi có kỳ hạn Phát Lộc Thịnh Vượng. Mức lãi suất chi tiết phụ thuộc vào từng điều kiện sản phẩm và quy định hiện hành của ngân hàng.
LPBank đứng ở vị trí tiếp theo với lãi suất 7,15%/năm. Saigonbank, MBV và VCBNeo cùng niêm yết 7%/năm. Bac A Bank áp dụng mức 6,95%/năm, trong khi OCB ở mức 6,9%/năm.
Nhóm ngân hàng có lãi suất kỳ hạn 18 tháng từ 6,5%/năm trở lên còn có Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng ở mức 6,8%/năm; PGBank và Nam A Bank cùng đạt 6,8%/năm; BVBank và NCB cùng niêm yết 6,7%/năm. MSB và SHB lần lượt áp dụng mức 6,6%/năm.
Ở kỳ hạn 12 tháng, Sacombank đứng đầu với mức lãi suất 7,5%/năm. LPBank và Saigonbank cùng niêm yết 7,2%/năm, trong khi VPBank và Bac A Bank lần lượt áp dụng mức 7,1%/năm.
Nhóm ngân hàng niêm yết lãi suất 7%/năm ở kỳ hạn này gồm MBV, OCB, PGBank, VCBNeo và VIB. Như vậy, có 10 ngân hàng trong bảng áp dụng lãi suất kỳ hạn 12 tháng từ 7%/năm trở lên.
Đáng chú ý, bốn ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết lãi suất 6,8%/năm ở kỳ hạn 12 tháng. MSB cũng áp dụng mức tương tự. Trong khi đó, Nam A Bank niêm yết 6,6%/năm; SHB và BaoVietBank cùng ở mức 6,5%/năm.
Ở nhóm lãi suất thấp hơn, ACB niêm yết 5,7%/năm, PVcomBank ở mức 5,6%/năm, GPBank 5,55%/năm. HDBank và Eximbank cùng áp dụng 5,3%/năm, SeABank ở mức 5%/năm. SCB có mức lãi suất thấp nhất trong bảng ở kỳ hạn này, với 3,7%/năm.
Sự phân hóa tại các kỳ hạn ngắn
Lùi về các kỳ hạn ngắn hơn, sự chênh lệch lãi suất giữa các nhà băng càng bộc lộ rõ rệt. Tại kỳ hạn 6 tháng, Sacombank một lần nữa khẳng định vị thế dẫn đầu với 7,2%/năm. Mức này cao hơn tới 4,3 điểm phần trăm so với mức thấp nhất 2,9%/năm của SCB. Bám sát phía sau Sacombank là Bac A Bank với 7,05%/năm, cùng bộ ba LPBank, MBV, VCBNeo và VPBank đồng loạt niêm yết ở mốc 7%/năm.
Ở kỳ hạn 3 tháng, mức trần 4,75%/năm đang được nhiều ngân hàng tận dụng tối đa, tiêu biểu như OCB, MBV, VPBank, Bac A Bank. Tuy nhiên, SCB lại tiếp tục tạo đáy với mức lãi suất chỉ vỏn vẹn 1,9%/năm.
Trong bức tranh chung đa sắc màu đó, nhóm 4 ngân hàng quốc doanh (Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank) lại cho thấy sự ổn định. Tại kỳ hạn 12 và 18 tháng, bộ tứ này đều đồng thuận áp dụng chung một mức lãi suất 6,8%/năm. Tại kỳ hạn 6 tháng, con số này lùi về mức 6,6%/năm. Riêng ở kỳ hạn 3 tháng, ngoại trừ Agribank và BIDV nằm trong nhóm niêm yết 4,75%/năm, Vietcombank và VietinBank vẫn giữ mức lãi suất thấp hơn.