Nợ xấu hình thành ròng trong quý II đạt gần 50.000 tỷ đồng, trong đó khoảng 77% tập trung tại 6 ngân hàng lớn.
Nợ nhóm 2 lên mức cao nhất kể từ quý I/2023
Trong khi lợi nhuận ngành ngân hàng tăng tốc trong nửa đầu năm 2026, diễn biến chất lượng tài sản bắt đầu xuất hiện một điểm đáng chú ý khi nợ nhóm 2 tăng nhanh hơn nợ xấu.

Theo báo cáo cập nhật kết quả kinh doanh quý II/2026 của Chứng khoán Rồng Việt, nợ xấu nội bảng tại các ngân hàng đạt khoảng 310.000 tỷ đồng vào cuối quý II. Tỷ lệ nợ xấu tăng nhẹ từ 1,99% cuối quý I lên 2,01%.
Mức biến động của tỷ lệ nợ xấu không lớn một phần do tín dụng tiếp tục mở rộng, làm tăng tổng dư nợ dùng để tính tỷ lệ này. Đến cuối quý II, tín dụng toàn hệ thống tăng 8,3% so với đầu năm, tương đương tăng 17,4% so với cùng kỳ.
Phía trước nhóm nợ xấu, quy mô nợ nhóm 2 còn gọi là nợ cần chú ý tăng lên hơn 212.000 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ nhóm 2 theo đó tăng từ 1,23% cuối quý I lên 1,37% cuối quý II.
Riêng nợ nhóm 2 hình thành ròng trong quý đạt gần 81.000 tỷ đồng, cao nhất kể từ quý I/2023. Con số này cũng lớn hơn đáng kể quy mô nợ xấu hình thành ròng gần 50.000 tỷ đồng trong cùng kỳ.
Nợ nhóm 2 chưa được xếp vào nợ xấu, nhưng thường được theo dõi như một chỉ báo sớm về chất lượng tín dụng. Nếu một phần số dư này chuyển xuống nhóm 3, 4 hoặc 5, các ngân hàng sẽ phải tăng trích lập dự phòng, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận.
Theo Chứng khoán Rồng Việt, nợ xấu hình thành ròng trong quý II/2026 đạt gần 50.000 tỷ đồng, giảm nhẹ so với mức 53.000 tỷ đồng của quý trước. Trong đó, BIDV ghi nhận khoảng 11.200 tỷ đồng, VietinBank 10.600 tỷ đồng, Sacombank 6.500 tỷ đồng, VPBank 4.100 tỷ đồng, MB 3.100 tỷ đồng và HDBank 2.900 tỷ đồng. Tổng cộng, 6 ngân hàng này chiếm khoảng 77% nợ xấu hình thành ròng trong quý.
Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng như Vietcombank, Nam A Bank, PGBank, VietBank và Bac A Bank ghi nhận nợ xấu hình thành ròng âm. Diễn biến này đồng nghĩa giá trị các khoản nợ được cải thiện hoặc chuyển lên nhóm có chất lượng tốt hơn lớn hơn lượng nợ xấu mới phát sinh trong kỳ.
Sự phân hóa trên khiến chất lượng tài sản giữa các ngân hàng không hoàn toàn đồng đều. Tỷ lệ nợ xấu chung vẫn duy trì quanh 2%, nhưng tốc độ hình thành nợ nhóm 2 đang đặt ra yêu cầu theo dõi sát hơn tại từng tổ chức tín dụng.
Bộ đệm dự phòng đứng trước áp lực mới
Cùng với nợ nhóm 2 tăng lên, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng trong quý II đạt hơn 43.000 tỷ đồng, tăng khoảng 10% so với quý trước.
Việc tăng trích lập giúp các ngân hàng chủ động hơn trước khả năng chất lượng khoản vay suy giảm. Tuy nhiên, Rồng Việt đánh giá bộ đệm dự phòng tại phần lớn ngân hàng chưa được củng cố tương ứng với tốc độ hình thành nợ nhóm 2.
Vietcombank nổi bật với mức cải thiện rõ rệt về tỷ lệ bao phủ nợ xấu sau quý II. Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ tại phần lớn ngân hàng còn lại chủ yếu duy trì hoặc đi ngang, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn 2023–2024.
Tại những ngân hàng có bộ đệm dự phòng thấp, việc nợ nhóm 2 chuyển thành nợ xấu có thể kéo theo nhu cầu tăng chi phí dự phòng. Khi đó, một phần lợi nhuận trước dự phòng sẽ phải được sử dụng để xử lý rủi ro tín dụng.
Áp lực này xuất hiện trong bối cảnh nguồn thu từ các khoản nợ đã xử lý rủi ro bắt đầu chậm lại. Trong quý II, các ngân hàng thu hồi hơn 11.400 tỷ đồng nợ xấu ngoại bảng, giảm nhẹ 1% so với cùng kỳ. Đây là quý đầu tiên khoản thu này suy giảm sau nhiều quý liên tiếp tăng trưởng.
Theo Rồng Việt, việc thu hồi nợ ngoại bảng chậm lại diễn ra trong bối cảnh thanh khoản thị trường bất động sản, một trong những kênh xử lý tài sản bảo đảm quan trọng, có dấu hiệu hạ nhiệt khi mặt bằng lãi suất ở mức cao.
Trong những năm gần đây, thu hồi nợ đã xử lý rủi ro đóng góp đáng kể vào thu nhập ngoài lãi của nhiều ngân hàng. Khi nguồn thu này giảm tốc, khả năng bù đắp chi phí tín dụng từ hoạt động thu hồi nợ cũng bị hạn chế.
Dù vậy, nợ nhóm 2 tăng chưa đồng nghĩa toàn bộ số dư này sẽ chuyển thành nợ xấu. Mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào khả năng trả nợ của khách hàng, tiến độ xử lý tài sản bảo đảm và chính sách trích lập của từng ngân hàng.