Số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường tiếp tục tăng, phản ánh niềm tin vào triển vọng kinh tế. Tuy nhiên, Số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường tiếp tục tăng, phản ánh niềm tin vào triển vọng kinh tế. Tuy nhiên, để khu vực doanh nghiệp thực sự trở thành động lực tăng trưởng, trọng tâm cần chuyển sang nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển.

Tín hiệu tích cực từ bức tranh doanh nghiệp
Hoạt động đăng ký doanh nghiệp trong những tháng đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận nhiều điểm sáng, phản ánh sức sống của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng tốc. Dù môi trường kinh doanh vẫn chịu tác động từ biến động kinh tế thế giới, xu hướng thành lập doanh nghiệp mới cùng sự trở lại của nhiều doanh nghiệp sau thời gian tạm ngừng hoạt động cho thấy niềm tin thị trường đang từng bước được củng cố.
Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố, trong tháng 7 cả nước có hơn 14,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký gần 166,3 nghìn tỷ đồng, tạo việc làm cho khoảng 82 nghìn lao động. So với tháng trước, số doanh nghiệp giảm 15,5%, vốn đăng ký giảm 41,9%, lao động giảm 0,6%. Nếu so với cùng kỳ năm 2025, số doanh nghiệp giảm 13,9%, song vốn đăng ký tăng 41,6%, lao động tăng 3,8%.
Điểm đáng chú ý là quy mô vốn bình quân của doanh nghiệp mới thành lập đạt 11,7 tỷ đồng, tăng 64,4% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này cho thấy chất lượng dòng vốn đầu tư vào khu vực doanh nghiệp có xu hướng cải thiện, phản ánh kỳ vọng dài hạn của nhà đầu tư đối với triển vọng kinh doanh. Bên cạnh đó, hơn 10,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng 7 tiếp tục bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế.

Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, cả nước có hơn 125,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn gần 1.518,9 nghìn tỷ đồng, tăng 16,9% về số doanh nghiệp và tăng 63,6% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 3,6 triệu tỷ đồng, tăng 7,3%. Cùng với gần 61,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tổng số doanh nghiệp gia nhập thị trường đạt gần 187,2 nghìn, bình quân mỗi tháng có khoảng 26,7 nghìn doanh nghiệp mới hoặc hoạt động trở lại.
Ở góc độ cơ cấu ngành, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ghi nhận 1.325 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 39,6%; khu vực công nghiệp và xây dựng có gần 31 nghìn doanh nghiệp, tăng 31,4%; khu vực dịch vụ đạt 93,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 12,5%. Những con số này phản ánh xu hướng mở rộng hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, góp phần tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp chưa đồng nghĩa với sự cải thiện đồng đều về chất lượng phát triển. Theo ông Phạm Ngọc Thạch, Phó Trưởng ban Pháp chế VCCI, nhiều doanh nghiệp hiện hữu vẫn khá thận trọng trong kế hoạch mở rộng sản xuất, kinh doanh.
“Hiện khối doanh nghiệp hiện hữu đang dè dặt mở rộng, nhưng đây là sự thận trọng hợp lý hơn là suy giảm niềm tin. Vì vậy, thách thức cốt lõi là giúp doanh nghiệp mới tồn tại, doanh nghiệp nhỏ lớn lên và doanh nghiệp lớn đủ khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị”, ông Phạm Ngọc Thạch nhận định.
Chính sách cần tạo động lực để doanh nghiệp lớn lên
Nhìn từ những con số thống kê, mục tiêu phát triển doanh nghiệp trong giai đoạn mới không dừng ở việc gia tăng số lượng. Điều quan trọng hơn là nâng cao sức cạnh tranh, năng suất lao động, khả năng đổi mới sáng tạo cùng quy mô hoạt động của từng doanh nghiệp. Đây cũng là nền tảng quyết định chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế trong những năm tới, nhất là khi Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Theo GS.TS. Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, muốn đạt mục tiêu tăng trưởng cao, nền kinh tế cần được xây dựng trên một nền tảng mới. Ông nhấn mạnh, nền kinh tế phải được xây dựng trên một nền tảng mới: năng suất cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, thị trường thông suốt hơn, công nghệ hiện đại hơn và bộ máy thực thi chất lượng, hiệu quả hơn. Quan điểm này cho thấy động lực tăng trưởng bền vững phải bắt nguồn từ sự chuyển biến thực chất trong khu vực doanh nghiệp.
“Năng lực tăng trưởng dài hạn được quyết định bởi hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, từng ngành kinh tế, từng địa phương cùng từng dự án đầu tư. Khi doanh nghiệp còn mất nhiều thời gian xử lý thủ tục hành chính, dòng vốn chưa chảy đến các dự án có năng suất cao, nguồn lực đất đai, dữ liệu, công nghệ hay nhân lực chưa được khai thác hiệu quả, mục tiêu tăng trưởng nhanh sẽ gặp nhiều trở ngại”.
GS.TS. Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Từ góc độ chính sách, nhiều chuyên gia cho rằng cần chuyển mạnh sang các giải pháp mang tính vi mô, tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thay vì các biện pháp hỗ trợ dàn trải, chính sách cần xác định đúng điểm nghẽn của từng nhóm doanh nghiệp, tạo chuyển biến rõ ràng về chi phí sản xuất, năng suất lao động, khả năng huy động nguồn lực cùng động lực đổi mới sáng tạo. Hiệu quả của từng chính sách cũng cần được lượng hóa bằng những chỉ tiêu cụ thể.
PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng trọng tâm điều hành cần hướng mạnh vào khu vực doanh nghiệp. Theo ông, 4 nhóm giải pháp cần được ưu tiên gồm hoàn thiện thể chế cho khu kinh tế, khu thương mại tự do cùng trung tâm tài chính quốc tế; đổi mới chính sách thuế và tài khóa; tháo gỡ điểm nghẽn về tín dụng; xây dựng khung thể chế cho phát triển trí tuệ nhân tạo nhằm tạo động lực tăng trưởng mới.
Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ cũng cần được thiết kế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Hộ kinh doanh cùng doanh nghiệp siêu nhỏ cần được hỗ trợ chuyển đổi thành doanh nghiệp chính thức. Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần cải thiện khả năng tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ năng quản trị. Đối với doanh nghiệp tăng trưởng cao cùng doanh nghiệp đầu đàn, trọng tâm là khuyến khích nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, mở rộng thị trường, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo các chuyên gia, mục tiêu phát triển 2 triệu doanh nghiệp chỉ thực sự có ý nghĩa khi cộng đồng doanh nghiệp sở hữu năng lực cạnh tranh cao, có khả năng tích lũy vốn, đổi mới công nghệ, tạo giá trị gia tăng lớn cho nền kinh tế. Khi cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy chuyển đổi số cùng đổi mới sáng tạo được triển khai đồng bộ, khu vực doanh nghiệp sẽ trở thành động lực tăng trưởng quan trọng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn 2026-2030.