Chính phủ ban hành Nghị định 253/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân. Trong đó có quy định đáng chú ý về giảm trừ vào thu nhập chịu thuế đối với các khoản chi cho y tế và giáo dục - đào tạo.

Quy định về giảm trừ đối với các khoản y tế và giáo dục – đào tạo
Theo Khoản 2 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định:
“2. Người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế, bao gồm:
a) Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
b) Các khoản chi cho giáo dục - đào tạo tại cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục - đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục - đào tạo”.
Quy định này đánh dấu sự thay đổi đáng kể trong xây dựng chính sách thuế. Trước đây việc giảm trừ chủ yếu dựa trên các khoản chi có tính chất bắt buộc hoặc mang ý nghĩa xã hội như bảo hiểm, từ thiện, nay đã mở rộng sang những khoản chi phục vụ trực tiếp cho việc bảo vệ sức khỏe và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, quy định này giới hạn các khoản chi phải phát sinh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả. Quy định này đồng nghĩa với việc các khoản chi khám bệnh, chữa bệnh ở nước ngoài sẽ không thuộc phạm vi được giảm trừ theo khoản 2 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Đối tượng được áp dụng chính sách giảm trừ
Khoản 2 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về đối tượng được hưởng chính sách áp dụng với người nộp thuế là cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Tại Khoản 1 Điều 4 quy định:
“Cá nhân cư trú là cá nhân đáp ứng một trong các điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật Thuế thu nhập cá nhân và được quy định chi tiết như sau:
1. Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Trong đó, đối với cá nhân nhập cảnh, xuất cảnh, ngày đến được tính là một ngày, ngày đi được tính là một ngày, trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú. Ngày đến và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu, giấy thông hành hoặc các tài liệu liên quan tới mục đích nhập cảnh, xuất cảnh của cá nhân khi đến và khi rời Việt Nam.
Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo quy định tại khoản này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam”.
Như vậy, từ quy định trên có thể hiểu không phải mọi cá nhân có thu nhập từ y tế, giáo dục – đào tạo đều được áp dụng quy định này, mà chỉ giới hạn đối với cá nhân cư trú đang thực hiện nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân.
Điều kiện để được giảm trừ đối với các khoản chi cho y tế và giáo dục - đào tạo
Để bảo đảm tính minh bạch, ngăn ngừa việc lợi dụng chính sách và tạo cơ sở cho cơ quan thuế kiểm tra, đối chiếu trong quá trình quyết toán thuế, khoản 3 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP đã quy định cụ thể các khoản chi phí mà người nộp thuế được giảm trừ phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
- Hóa đơn, chứng từ để được giảm trừ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế;
- Không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách Nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.
Dù khoản 2 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP mở ra một cơ chế hỗ trợ tích cực đối với người nộp thuế, nhưng việc được hưởng chính sách hay không phụ thuộc rất lớn vào khả năng đáp ứng đầy đủ các điều kiện về hóa đơn, chứng từ. Vì vậy, người nộp thuế cần chủ động lưu giữ đầy đủ hóa đơn, bảng kê và các tài liệu liên quan ngay từ thời điểm phát sinh chi phí để bảo đảm quyền lợi của mình khi thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân.
Có thể thấy, việc ban hành quy định mới không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ về tài chính đối với người lao động mà còn thể hiện sự thay đổi trong xây dựng pháp luật thuế. Nếu trước đây thu nhập chịu thuế chủ yếu được giảm trừ bởi các khoản bảo hiểm, giảm trừ gia cảnh hoặc các khoản đóng góp từ thiện, thì nay phạm vi giảm trừ đã được mở rộng sang những khoản chi phục vụ nhu cầu thiết yếu của cá nhân và gia đình.
Hơn nữa, quy định mới còn tạo động lực khuyến khích người dân quan tâm hơn đến việc chăm sóc sức khỏe và đầu tư cho học tập, nâng cao trình độ chuyên môn. Khi một phần chi phí khám bệnh, chữa bệnh và đào tạo được ghi nhận là khoản giảm trừ hợp pháp, người nộp thuế sẽ có thêm điều kiện để tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục, đồng thời hình thành thói quen sử dụng hóa đơn, chứng từ hợp pháp trong các giao dịch với cơ sở y tế và cơ sở giáo dục. Đây cũng là yếu tố góp phần tăng cường tính minh bạch trong quản lý thuế và thúc đẩy việc thực hiện hóa đơn điện tử trên thực tế.
Như vậy, quy định tại khoản 2 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP không chỉ đơn thuần bổ sung thêm một khoản giảm trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân mà còn thể hiện định hướng xây dựng chính sách thuế theo hướng coi trọng yếu tố an sinh xã hội và bảo đảm sự công bằng trong điều tiết thu nhập. Nếu được triển khai đồng bộ, minh bạch, quy định mới sẽ góp phần giảm bớt gánh nặng tài chính đối với người lao động, khuyến khích đầu tư cho y tế và giáo dục, đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi chính sách thuế thu nhập cá nhân trong thời gian tới.