Giá lúa gạo ngày hôm nay 23/9/2026 tại Đồng bằng sông Cửu Long đảo chiều tăng. OM 18, OM 5451, IR 50404 và OM 34 cùng tăng 100 đồng/kg, trong khi một số loại gạo nguyên liệu giảm giá.
Giá lúa tươi đồng loạt tăng

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, thị trường lúa gạo ngày 23/9 ghi nhận diễn biến trái chiều giữa lúa tươi và gạo nguyên liệu.
Giá lúa tươi OM 18 tăng 100 đồng/kg, lên 6.000 - 6.100 đồng/kg. Lúa tươi OM 5451 cũng tăng 100 đồng/kg, dao động 6.000 - 6.100 đồng/kg.
Lúa tươi IR 50404 tăng 100 đồng/kg, lên 5.900 - 6.000 đồng/kg; lúa tươi OM 34 tăng 100 đồng/kg, dao động 5.700 - 5.900 đồng/kg. Trong khi đó, lúa tươi Đài Thơm 8 duy trì ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg.
Ở chiều ngược lại, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 giảm 100 đồng/kg, xuống 8.600 - 8.700 đồng/kg. Gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 giảm 50 đồng/kg, dao động 8.600 - 8.700 đồng/kg.
Các loại gạo nguyên liệu khác gồm OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Với nhóm phụ phẩm, giá dao động khoảng 7.300 - 8.600 đồng/kg. Tấm thơm 3 - 4 ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg, trong khi giá cám dao động 7.300 - 7.650 đồng/kg.
Giá gạo bán lẻ và thị trường xuất khẩu

Tại các chợ lẻ, giá gạo nhìn chung ổn định. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg.
Gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg.
Gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg; gạo thường 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 15.000 - 16.000 đồng/kg.
Gạo Sóc Thái có giá 20.000 đồng/kg, gạo Nhật 22.000 đồng/kg và gạo OM 18 dao động 15.500 - 16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục ổn định. Giá nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg, trong khi nếp IR 4625 tươi dao động 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Tại các địa phương, lúa Hè Thu đang vãn đồng, trong khi lúa Thu Đông được chào bán với lượng khá ở một số khu vực. Giá lúa nhìn chung chỉ biến động nhẹ.
Tại Cần Thơ, lúa Thu Đông chào bán có lượng khá và giá ít biến động. Ở An Giang, lúa Hè Thu vãn đồng, một số loại lúa tươi tăng nhẹ. Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tây Ninh và Vĩnh Long, hoạt động mua bán vẫn chậm, giá lúa ít biến động.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục giữ ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động 440 - 445 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán 526 - 530 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 368 - 372 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 477 - 481 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 373 - 377 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm dao động 375 - 379 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 307 - 311 USD/tấn.