Giá lúa gạo ngày hôm nay 7/10, thị trường Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục duy trì mặt bằng ổn định khi nguồn cung lúa mới ở mức vừa phải, trong khi nhu cầu thu mua chưa có biến động đáng kể. OM 18 và Đài Thơm 8 tiếp tục dẫn đầu về giá trong nhóm lúa thơm.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động giao dịch lúa gạo chưa ghi nhận biến động lớn. Lượng lúa mới đưa ra thị trường ở mức vừa phải, trong khi nhu cầu thu mua vẫn duy trì ổn định, giúp cân bằng cung – cầu và hạn chế áp lực điều chỉnh giá.
OM 18 và Đài Thơm 8 tiếp tục giữ mức cao nhất, dao động 6.100 – 6.300 đồng/kg. OM 5451 ở mức 6.000 – 6.100 đồng/kg; OM 34 đạt 5.700 – 5.800 đồng/kg; IR 50404 dao động 5.800 – 6.000 đồng/kg.
Giá gạo nguyên liệu và gạo bán lẻ tiếp tục đi ngang

Tại các kho chế biến và nhà máy phục vụ xuất khẩu, hoạt động thu mua vẫn diễn ra ở mức chừng mực, chủ yếu đáp ứng nhu cầu thực tế. Giá gạo nguyên liệu OM 5451 hiện ở mức 9.300 – 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 đạt 9.200 – 9.400 đồng/kg; CL 555 dao động 8.750 – 8.850 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu OM 18 giữ mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.700 – 8.800 đồng/kg. OM 380 và Sóc thơm cùng duy trì 7.500 – 7.600 đồng/kg.
Ở thị trường bán lẻ, giá gạo tiếp tục không thay đổi. Gạo Nàng Nhen có mức cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg. Thơm Thái hạt dài dao động 20.000 – 22.000 đồng/kg, còn Jasmine ở mức 17.000 – 18.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp cũng giữ nền ổn định. Nếp 3 tháng khô đạt 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi và IR 5625 tươi cùng ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam chưa có nhiều thay đổi
Trên thị trường quốc tế, giá chào bán gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục ổn định so với các phiên trước. Gạo Jasmine ở mức 515 – 519 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm đạt 440 – 445 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động 371 – 375 USD/tấn.
Gạo 5% tấm của Thái Lan được chào bán 455 – 459 USD/tấn, trong khi cùng chủng loại của Ấn Độ ở mức 382 – 386 USD/tấn. Gạo 100% tấm của Ấn Độ tăng nhẹ 3 USD/tấn, lên 326 – 330 USD/tấn.
Trong tháng 9/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 377,4 nghìn tấn gạo, đạt trị giá 205,6 triệu USD. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, lượng gạo xuất khẩu đạt 6,4 triệu tấn, kim ngạch 3,11 tỷ USD.
So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu gạo giảm 6,1% về khối lượng và 10,9% về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân cũng giảm 5,1%, xuống 484,8 USD/tấn.
Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất của gạo Việt Nam với 40,9% thị phần, tiếp đến là Trung Quốc 17,4% và Ghana 12,7%.
Trong ngắn hạn, nguồn cung lúa mới ở mức vừa phải được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ mặt bằng giá lúa tươi. Tuy nhiên, xuất khẩu giảm cả về lượng và giá trị vẫn là yếu tố hạn chế khả năng xuất hiện các đợt tăng giá mạnh trên diện rộng.