UBND tỉnh Quảng Ngãi đề xuất đầu tư tuyến cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum dài hơn 136km, quy mô 4 làn xe, tổng mức đầu tư hơn 51.500 tỷ đồng. Dự án dự kiến khởi công năm 2027 và hoàn thành, đưa vào khai thác năm 2030.
Cao tốc hơn 136km, đầu tư 4 làn xe

UBND tỉnh Quảng Ngãi vừa gửi Thủ tướng Chính phủ tờ trình báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum. Hồ sơ đồng thời được gửi Bộ Xây dựng, các Bộ quản lý chuyên ngành và nhiều cơ quan liên quan.
Theo đề xuất, tuyến dài hơn 136km, điểm đầu tại Km 0+00 giao với cao tốc Bắc - Nam phía Đông ở xã Nguyễn Nghiêm, điểm cuối giao với tuyến quy hoạch cao tốc Bắc - Nam phía Tây tại xã Đăk Hà.
Toàn tuyến được đề xuất đầu tư hoàn chỉnh 4 làn xe, nền đường rộng 24,75m, vận tốc thiết kế 100km/h.
Đối với khoảng 66km qua đèo Vi Ô Lăk và đèo Măng Đen, do địa hình đồi núi hiểm trở, độ dốc cao, nhiều suối và khe cắt ngang, tuyến vẫn được đầu tư 4 làn xe nhưng nền đường rộng 22m, vận tốc thiết kế 80km/h.
Theo UBND tỉnh Quảng Ngãi, phương án đầu tư 4 làn xe ngay từ đầu được tính toán dựa trên chức năng tuyến và nhu cầu vận tải trong toàn bộ thời kỳ khai thác, thay vì chỉ căn cứ lưu lượng những năm đầu.
Lưu lượng dự báo năm 2030 đạt khoảng 2.986 - 5.673 PCU/ngày đêm. Đến năm 2040, con số này tăng lên 16.122 - 23.112 PCU/ngày đêm và đến năm 2050 đạt 24.870 - 32.679 PCU/ngày đêm.
Địa phương cho rằng nếu đầu tư phân kỳ với quy mô hạn chế rồi mở rộng sau sẽ phát sinh thêm chi phí, ảnh hưởng an toàn giao thông và phải thi công trong điều kiện tuyến đang khai thác. Với tuyến có nhiều cầu, hầm và công trình lớn như Quảng Ngãi - Kon Tum, việc hoàn thiện 4 làn ngay từ đầu được đánh giá sẽ đồng bộ và hạn chế phải mở rộng nhiều lần.
Hơn 51.500 tỷ đồng, sử dụng hơn 1.400ha đất
Theo phương án sơ bộ, dự án cần khoảng hơn 1.400ha đất. Trong đó, rừng tự nhiên khoảng hơn 400ha, rừng trồng hơn 300ha, đất chưa có rừng gần 322ha và đất ngoài ba loại rừng hơn 420ha.
Tổng mức đầu tư dự kiến hơn 51.500 tỷ đồng. Trong đó, chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gần 3.900 tỷ đồng; chi phí xây dựng, thiết bị gần 36.800 tỷ đồng; chi phí quản lý dự án, tư vấn và chi phí khác hơn 2.900 tỷ đồng; chi phí dự phòng hơn 7.900 tỷ đồng.
Nếu được chấp thuận, các thủ tục để khởi công dự án sẽ được hoàn thiện trong năm 2027, mục tiêu hoàn thành và đưa công trình vào khai thác trong năm 2030.
Tạo hành lang vận tải mới, giảm 50 - 60% thời gian
Hiện QL24 là tuyến đường bộ chủ yếu kết nối Quảng Ngãi với Kon Tum và Tây Nguyên, đồng thời phục vụ vận tải hàng hóa, hành khách đường dài và nhu cầu đi lại của người dân.
Trong quý I/2026, lưu lượng trên QL24 bình quân khoảng 3.607 xe/ngày đêm, tương đương 2.592 PCU/ngày đêm. Sang quý II/2026, lưu lượng bình quân khoảng 3.267 xe/ngày đêm, tương đương 2.499 PCU/ngày đêm.
Tại Km 0+500, lưu lượng quy đổi đạt khoảng 3.945 PCU/ngày đêm trong quý I/2026 và 3.987 PCU/ngày đêm trong quý II/2026.
UBND tỉnh Quảng Ngãi cho rằng hạn chế của QL24 không chỉ nằm ở lưu lượng mà còn ở chất lượng khai thác. Tuyến có tiêu chuẩn kỹ thuật không đồng đều, nhiều đoạn miền núi có độ dốc lớn, bán kính đường cong hạn chế và mặt cắt nhỏ. Khu vực đèo Vi Ô Lăk có địa hình phức tạp, nguy cơ sạt lở và mất an toàn giao thông trong mùa mưa.
Trong bối cảnh đó, cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum được kỳ vọng hình thành trục giao thông Đông - Tây kết nối cao tốc Bắc - Nam phía Đông với cao tốc Bắc - Nam phía Tây, đồng thời kết nối Tây Nguyên với Khu kinh tế Dung Quất, cảng biển Dung Quất và mạng lưới giao thông quốc gia.
Với vận tốc thiết kế 80 - 100km/h, kiểm soát ra vào và tách dòng giao thông đường dài khỏi giao thông dân sinh, tuyến cao tốc được kỳ vọng rút ngắn 50 - 60% thời gian vận chuyển, giảm chi phí vận hành và nâng độ ổn định của hành trình.
Tuyến cũng tạo thêm phương án vận tải khi QL24 xảy ra sạt lở, ách tắc hoặc sự cố do thiên tai, đặc biệt có ý nghĩa với hàng hóa xuất nhập khẩu, nông sản và các nhóm hàng cần thời gian vận chuyển nhanh, ổn định.
Việc hình thành tuyến cao tốc được kỳ vọng tăng khả năng kết nối từ Tây Nguyên, cửa khẩu quốc tế Bờ Y ra biển, qua đó tạo thêm động lực phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và ổn định dân cư khu vực miền núi, biên giới.