Lãi suất huy động ngày 24/10 tiếp tục được điều chỉnh giảm tại nhiều ngân hàng, với mức giảm sâu nhất ghi nhận 0,9 điểm phần trăm. Dù vậy, một số nhà băng vẫn duy trì lãi suất tiết kiệm ở mức cao, lên tới 7,9%/năm ở kỳ hạn nhất định.

Lãi suất huy động tiếp tục giảm tại nhiều ngân hàng
Làn sóng giảm lãi suất tiền gửi tiếp tục lan rộng sau cuộc họp giữa Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng. Tính đến ngày 23/10, đã có 22 ngân hàng công bố điều chỉnh giảm lãi suất huy động theo định hướng chung. Phần lớn các đợt điều chỉnh tập trung vào kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, với mức giảm phổ biến 0,5 điểm phần trăm/năm. Riêng KienlongBank ghi nhận mức giảm tới 0,9 điểm phần trăm ở kỳ hạn 12 tháng, đưa lãi suất xuống còn 5%/năm.
Trong những ngân hàng mới điều chỉnh, PGBank giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất tiền gửi tại quầy đối với các kỳ hạn từ 6–13 tháng. Sau điều chỉnh, lãi suất kỳ hạn 6–9 tháng còn 6,1%/năm, kỳ hạn 12–13 tháng còn 6,2%/năm; các kỳ hạn 18–36 tháng giữ nguyên ở mức 6,8%/năm. Đối với kênh trực tuyến, ngân hàng vẫn giữ mức 7%/năm cho kỳ hạn 12–13 tháng và 6,9%/năm cho kỳ hạn 6–9 tháng.
Saigonbank cũng giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động ở các kỳ hạn 6–12 tháng và 18–36 tháng. Theo biểu lãi suất trực tuyến mới, tiền gửi kỳ hạn 6 tháng còn 6,4%/năm, kỳ hạn 12 tháng còn 6,7%/năm, trong khi kỳ hạn 24 tháng giảm xuống 6%/năm. Các mức lãi suất kỳ hạn ngắn từ 1–5 tháng vẫn được giữ ở 4,75%/năm.
Lãi suất tiết kiệm tại quầy
Lãi suất huy động tại quầy tiếp tục được điều chỉnh ở một số ngân hàng. PGBank giảm 0,5 điểm phần trăm/năm đối với các kỳ hạn từ 6–13 tháng. Sau điều chỉnh, lãi suất kỳ hạn 6–9 tháng còn 6,1%/năm, trong khi kỳ hạn 12–13 tháng còn 6,2%/năm. Các kỳ hạn dài từ 18–36 tháng vẫn được duy trì ở mức 6,8%/năm
Theo biểu lãi suất huy động tại quầy ở nhóm kỳ hạn dài, NCB niêm yết 6,5%/năm ở kỳ hạn 18 tháng và 6,6%/năm ở kỳ hạn 24 tháng, trong khi MB Bank áp dụng 6,5%/năm cho tiền gửi kỳ hạn 24 tháng. Bac A Bank cũng duy trì mức 6,45%/năm ở cả kỳ hạn 18 và 24 tháng. Tại Saigonbank, lãi suất tiền gửi tại quầy cũng giảm 0,5 điểm phần trăm ở nhiều kỳ hạn, gồm 6–12 tháng và 18–36 tháng. Dù điều chỉnh giảm, ngân hàng vẫn duy trì lãi suất 7,9%/năm đối với kỳ hạn 13 tháng.
Tại kỳ hạn 12 tháng, lãi suất giữa các ngân hàng có sự chênh lệch đáng kể. PGBank và NCB cùng niêm yết 6,2%/năm, Techcombank áp dụng 6,15%/năm, còn MSB ở mức 6%/năm. Trong khi đó, lãi suất tại MB Bank đạt 5,7%/năm, còn BIDV và Vietcombank cùng niêm yết 5,4%/năm. Nằm trong khoảng lãi suất thấp, ngân hàng KienlongBank giảm 0,9 điểm phần trăm đưa mức niêm yết xuống còn 5%/năm.
Với các kỳ hạn ngắn, mức lãi suất kỳ hạn 1 tháng phổ biến trong khoảng 3,5–4,75%/năm. OCB, PGBank và VPBank cùng niêm yết 4,75%/năm; Bac A Bank áp dụng 4,75%/năm, trong khi MSB niêm yết 4,5%/năm. Vietcombank điều chỉnh giảm 0,5%/năm lãi suất huy động đối với các kỳ hạn từ sáu tháng trở lên. Theo biểu lãi suất mới, tiền gửi tại quầy kỳ hạn 6 và 9 tháng cùng ở mức 3%/năm; kỳ hạn 12 tháng còn 5,4%/năm và 24 tháng còn 5,5%/năm.
Lãi suất tiết kiệm trực tuyến
Ở kênh trực tuyến, nhiều ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động, chủ yếu từ kỳ hạn 6 tháng trở lên. SeABank niêm yết lãi suất 4,75%/năm cho các kỳ hạn 18–36 tháng; PVcomBank áp dụng 5,8%/năm cho kỳ hạn 15–36 tháng, còn ABBank niêm yết 5,75%/năm ở các kỳ hạn 6–13 tháng. Tại MB, lãi suất trực tuyến cao nhất còn 6,5%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 24–60 tháng.
Trong khi đó, SHB niêm yết lãi suất 6,2%/năm cho kỳ hạn 24–36 tháng, còn Cake by VPBank áp dụng 6,9%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn 6–24 tháng sau đợt điều chỉnh. Riêng MBV vẫn duy trì mức 7%/năm cho các kỳ hạn trực tuyến từ 7–36 tháng.
Trong khoảng mức lãi suất cao, PGBank vẫn duy trì lãi suất 7%/năm cho tiền gửi kỳ hạn 12–13 tháng, trong khi kỳ hạn 6–9 tháng được niêm yết ở mức 6,9%/năm. Diễn biến này cho thấy lãi suất trực tuyến tại một số kỳ hạn vẫn ở mức cao, dù ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất tại quầy. Saigonbank tiếp tục áp dụng lãi suất trực tuyến 7,9%/năm đối với kỳ hạn 13 tháng.

Diễn biến này cho thấy lãi suất tiết kiệm trực tuyến có sự phân hóa giữa các ngân hàng, tùy theo kỳ hạn và chính sách huy động vốn.