Giá lúa gạo hôm nay (12/8) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động, giao dịch mua bán chậm. Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 7 đã tăng lên mức cao nhất 19 tháng do nguồn cung eo hẹp.

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi IR 50404 hôm nay dao động ở mức 6.300 - 6.400 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 6.700 - 6.800 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.900 - 7.000 đồng/kg; lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.900 - 7.000 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 6.100 - 6.300 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, nguồn nhiều, giá lúa vững. Tại An Giang, lúa thơm đang thu hoạch rộ, nông dân có xu hướng chào nhích, giao dịch mua bán chậm, giá lúa chững. Tại Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, nông dân neo giá cao, giao dịch mua bán chậm, giá lúa tương đối ổn định.
Với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay tăng 100 đồng/kg dao động ở mức 9.800 - 9.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 9.750 - 9.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.450 - 8.750 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.600 - 8.750 đồng/kg; giá cám giảm 150 đồng/kg dao động ở mức 7.450 - 7.600 đồng/kg,.
Tại các chợ lẻ giá gạo đứng giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 16.500 - 17.500 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 13.500 - 14.500 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp ổn định. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo trắng 5% tấm vẫn được chào bán ở mức 434 - 438 USD/tấn, giá gạo Jasmine dao động từ 541 - 545 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm được trong khoảng 500 - 510 USD/tấn.
Giá gạo Việt Nam đã lên mức cao nhất trong 19 tháng, do nguồn cung suy yếu bởi vụ Hè Thu sớm bị trì hoãn và sản lượng giảm. Cụ thể, giá gạo 5% tấm của Việt Nam tăng lên 425,3 USD/tấn trong tháng 7, từ 412,3 USD/tấn trong tháng 6, trong khi gạo thơm 5% tấm tăng lên 507,1 USD/tấn, từ 494,1 USD/tấn.
Tại các quốc gia sản xuất hàng đầu khác, gạo trắng 5% tấm của Thái Lan vẫn duy trì ở mức 450 - 454 USD/tấn, cao nhất trong khu vực.
Tại Pakistan, gạo trắng 5% tấm được các nhà giao dịch báo giá từ 399 - 403 USD/tấn.
Tại Ấn Độ vẫn duy trì mức giá cạnh tranh, với gạo trắng 5% tấm đứng ở mức 361 - 365 USD/tấn và gạo đồ 5% tấm đạt 366 - 370 USD/tấn.
Theo dữ liệu từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), chỉ số giá gạo toàn cầu của FAO đạt bình quân 108,4 điểm trong tháng 7, gần như không thay đổi so với tháng 6 nhưng tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước.