Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế cho biết có doanh nghiệp ngừng hoạt động, không nợ thuế nhưng vẫn phải đối mặt với các khoản phạt, tiền chậm nộp lên tới hàng chục triệu đồng khi đóng mã số thuế.
Tại tọa đàm "Làm sạch mã số thuế: Làm sao để doanh nghiệp 'đóng cửa' thuận lợi?" do báo Dân trí tổ chức sáng 9/10, bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng Cục Thuế (nay là Cục Thuế), cho rằng cần phân loại doanh nghiệp ngừng hoạt động để có cơ chế xử lý phù hợp, tránh tình trạng không phát sinh nghĩa vụ thuế thực tế nhưng vẫn phải gánh các khoản phạt do chậm làm thủ tục.
Theo bà Cúc, ngừng hoạt động trên thực tế khác với chấm dứt hoạt động về mặt pháp lý. Nhiều chủ doanh nghiệp khi kinh doanh không hiệu quả chỉ thông báo tạm ngừng rồi chuyển sang công việc khác hoặc mở doanh nghiệp mới, mà không tiếp tục thực hiện các thủ tục cần thiết. Tình trạng này có thể kéo dài nhiều năm, thậm chí hàng chục năm.
Doanh nghiệp muốn chấm dứt hoạt động về mặt pháp lý phải xử lý các nghĩa vụ liên quan, hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế và các thủ tục về đăng ký kinh doanh theo quy định.
Vì vậy, có những doanh nghiệp thành lập từ năm 2013, đã ngừng kinh doanh nhưng đến nay vẫn chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt; các khoản nợ thuế, hóa đơn, chứng từ tồn đọng (nếu có) vẫn phải được xử lý khi doanh nghiệp quay lại làm thủ tục.

Tuy nhiên, bà Cúc nhấn mạnh không phải doanh nghiệp nào ngừng hoạt động lâu năm cũng có bản chất vi phạm giống nhau. Có doanh nghiệp đã hoạt động, phát sinh doanh thu, còn nợ thuế hoặc có dấu hiệu vi phạm về hóa đơn.
Tuy nhiên cũng có những doanh nghiệp mới thành lập, chưa kịp kinh doanh đã gặp khó khăn, không có doanh thu rồi ngừng hoạt động. Theo bà, cần phân biệt các trường hợp này để có phương án xử lý phù hợp.
Không có doanh thu vẫn có thể bị phạt hàng chục triệu đồng
Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam cho biết với những doanh nghiệp đã hoạt động, còn nợ thuế hoặc có vướng mắc về hóa đơn, chứng từ, việc đóng mã số thuế đòi hỏi phải rà soát, quyết toán và làm rõ các nghĩa vụ liên quan.
Trong quá trình này, doanh nghiệp có thể phát hiện hóa đơn mua từ những đơn vị đã bỏ trốn, mất tích hoặc không còn khả năng xác minh. Những vướng mắc như vậy khiến nhiều doanh nghiệp ngại quyết toán, không tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, dẫn đến tình trạng tồn đọng kéo dài.
Ở chiều ngược lại, có những doanh nghiệp thực tế không còn hoạt động, không phát sinh doanh thu nhưng vẫn phải đối mặt với tiền phạt do chậm nộp tờ khai, lệ phí môn bài và tiền chậm nộp liên quan.
Bà Cúc dẫn trường hợp một doanh nghiệp không có nợ thuế nhưng vẫn phát sinh các khoản phạt do chậm nộp tờ khai thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp, mỗi khoản 11,5 triệu đồng. Tổng hai khoản đã lên tới 23 triệu đồng, chưa kể các khoản khác.
Theo bà, nếu doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế nhưng không nộp tờ khai thì vẫn có thể bị xử phạt theo quy định về quản lý thuế, kể cả khi không có doanh thu. Đây là một trong những vướng mắc cần được xem xét đối với nhóm doanh nghiệp đã ngừng hoạt động trên thực tế nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt.
"Nếu doanh nghiệp không có nợ thuế, thực tế không hoạt động thì có thể xem xét cho chấm dứt, không bắt doanh nghiệp phải gánh tiền chậm nộp tờ khai thuế giá trị gia tăng ít nhất 11,5 triệu đồng và thuế thu nhập doanh nghiệp thêm 11,5 triệu đồng nữa", bà Cúc nêu quan điểm.
Bà cũng đề cập trường hợp một xưởng gỗ được mở cho con kinh doanh nhưng phải ngừng hoạt động do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Chủ cơ sở chỉ biết phải dừng hoạt động trong thời gian dịch bệnh, không biết sau đó cần làm thủ tục đóng mã số thuế. Đến nay, khoản nghĩa vụ phát sinh do tình trạng ngừng hoạt động kéo dài đã lên tới 61 triệu đồng.
Theo Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, những trường hợp không có dấu hiệu gian lận, không phát sinh nghĩa vụ thuế thực tế cần được xem xét riêng, thay vì áp dụng cách xử lý tương tự các doanh nghiệp cố tình chây ỳ hoặc có hành vi vi phạm.

Bà cũng kiến nghị nghiên cứu cơ chế xử lý đối với lệ phí môn bài còn tồn đọng của những hộ, cá nhân kinh doanh thực tế không hoạt động, không có doanh thu trong các năm trước, trên cơ sở chủ trương miễn lệ phí môn bài từ năm 2026. Theo bà, dù khoản lệ phí này không lớn, khi cộng dồn qua nhiều năm cùng tiền chậm nộp, số tiền phải xử lý có thể trở thành gánh nặng đáng kể.
Phân loại doanh nghiệp để xử lý, không đánh đồng vi phạm
Để tháo gỡ tình trạng trên, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam cho rằng cần phân loại doanh nghiệp theo tình trạng hoạt động thực tế, nghĩa vụ thuế và mức độ rủi ro.
Nhóm thứ nhất là doanh nghiệp mới thành lập nhưng chưa hoạt động, chưa có doanh thu hoặc chỉ có doanh thu rất nhỏ, chưa phát sinh nghĩa vụ thuế đáng kể. Nhóm thứ hai là doanh nghiệp có nợ thuế, vướng mắc về hóa đơn, chứng từ hoặc có dấu hiệu mua bán hóa đơn bất hợp pháp, bỏ trốn, né tránh quyết toán thuế.
Với những doanh nghiệp không còn hoạt động, không có nợ thuế thực chất, không vướng hóa đơn và không có dấu hiệu vi phạm, bà Cúc đề nghị nghiên cứu cơ chế xử lý phù hợp, đơn giản hóa thủ tục chấm dứt và xem xét các khoản phạt phát sinh do không thực hiện nghĩa vụ kê khai trong thời gian doanh nghiệp thực tế đã ngừng kinh doanh.
Trong khi đó, các trường hợp có dấu hiệu gian lận, mua bán hóa đơn hoặc còn nghĩa vụ thuế chưa được xác định rõ cần được kiểm tra, xử lý theo quy trình riêng. Việc phân loại nhằm bảo đảm không đánh đồng những doanh nghiệp thiếu hiểu biết, gặp khó khăn với các trường hợp cố tình vi phạm pháp luật.
Bà cũng cho rằng cần thiết kế quy trình đóng mã số thuế theo từng nhóm hồ sơ. Với doanh nghiệp mới thành lập, không có nợ thuế và không có vấn đề phát sinh, cơ quan quản lý cần hướng dẫn cụ thể thành phần hồ sơ, các bước thực hiện và đầu mối liên hệ.
Với doanh nghiệp chỉ còn khoản nợ thuế đã được xác định rõ, không vướng hóa đơn, chứng từ, có thể áp dụng quy trình đơn giản hơn. Riêng nhóm có rủi ro cao cần có cơ chế kiểm tra, xác minh chặt chẽ.
Ngoài ra, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam đề xuất nghiên cứu cách xử lý theo thời gian tồn đọng của khoản nợ, chẳng hạn phân nhóm nợ trên 10 năm, 5-10 năm và dưới 5 năm để xây dựng phương án phù hợp. Những khoản nợ lâu năm cần được xem xét trên cơ sở bản chất nghĩa vụ, khả năng xác minh và quy định pháp luật, thay vì để hồ sơ kéo dài mà không có hướng giải quyết cụ thể.

Theo bà, cơ quan thuế cần phối hợp với các đại lý thuế để hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ, thậm chí nghiên cứu giảm phí hoặc miễn phí hỗ trợ đối với những trường hợp phù hợp. Điều quan trọng là phải có quy trình thống nhất, để doanh nghiệp biết cần chuẩn bị giấy tờ gì, liên hệ với ai và thực hiện các bước nào.
Cần hướng dẫn ngay từ khi thành lập doanh nghiệp
Bà Cúc cho rằng yêu cầu "gia nhập dễ, rời thị trường cũng dễ" cần được giải quyết ngay từ khâu đăng ký kinh doanh, thay vì chỉ tập trung tháo gỡ những hồ sơ đã tồn đọng. Cơ quan quản lý cần tạo điều kiện để doanh nghiệp gia nhập thị trường, đồng thời hướng dẫn rõ trách nhiệm trong suốt quá trình hoạt động, tạm ngừng và chấm dứt kinh doanh.
"Ngay từ khi đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp cần được thông tin cụ thể về nghĩa vụ kê khai, nộp thuế; thủ tục phải thực hiện khi tạm ngừng hoạt động và các bước cần hoàn thành khi không còn kinh doanh. Điều này giúp hạn chế tình trạng doanh nghiệp dừng hoạt động nhưng bỏ quên mã số thuế, để nghĩa vụ và các khoản phạt phát sinh qua nhiều năm", bà nói.
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam kiến nghị xem xét cơ chế linh hoạt hơn đối với việc tạm hoãn xuất cảnh do nghĩa vụ thuế, nhất là những trường hợp khoản nợ nhỏ, phát sinh do sai sót hoặc chênh lệch dữ liệu, trong khi người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Theo bà, có trường hợp doanh nghiệp chỉ còn nợ vài trăm nghìn đồng nhưng người đại diện vẫn có thể gặp vướng mắc khi xuất cảnh. Nếu người nộp thuế có chuyến công tác, hội thảo quốc tế hoặc đã mua vé máy bay, việc phải hủy chuyến có thể gây ra thiệt hại đáng kể.
Bà đề xuất cho phép người nộp thuế chủ động hoàn thành nghĩa vụ qua các kênh trực tuyến, đồng thời tăng cường kết nối dữ liệu giữa cơ quan thuế và cơ quan xuất nhập cảnh. Khi nghĩa vụ thuế được hoàn thành, thông tin cần được cập nhật kịp thời để các cơ quan liên quan xác nhận và xử lý.
Theo Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, việc làm sạch mã số thuế không chỉ giúp doanh nghiệp thực sự không còn hoạt động hoàn tất thủ tục chấm dứt, mà còn góp phần ngăn chặn tình trạng các mã số thuế của doanh nghiệp đã ngừng hoạt động bị lợi dụng để phát hành, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, ảnh hưởng đến những doanh nghiệp đang hoạt động và tính minh bạch của nền kinh tế.