Gần 137.000 tỷ đồng trái phiếu được các ngân hàng mua lại trước hạn, đặt ra bài toán cân đối giữa chi phí huy động, thanh khoản và dư địa tăng trưởng tín dụng.

Gần 137.000 tỷ đồng trái phiếu được mua lại
Báo cáo thị trường trái phiếu doanh nghiệp tháng 6/2026 của FiinGroup cho thấy, hoạt động mua lại trước hạn tăng đột biến trong quý II, trở thành một trong những yếu tố chính khiến quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp thu hẹp trong nửa đầu năm.
Tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp được mua lại trước hạn trong quý II/2026 đạt 138.900 tỷ đồng, gấp 8,4 lần quý trước và tăng 39% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng, giá trị mua lại đạt 155.500 tỷ đồng, tăng 19,7%.
Động lực gần như hoàn toàn đến từ nhóm ngân hàng. Trong quý II, các tổ chức tín dụng mua lại khoảng 130.000 tỷ đồng trái phiếu, chiếm 93,6% toàn thị trường và tăng 78,7% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng, giá trị mua lại của nhóm này đạt gần 137.000 tỷ đồng, tăng 76% và chiếm 88,1%.
Riêng tháng 6, ngân hàng mua lại gần 65.000 tỷ đồng trái phiếu trước hạn, mức cao nhất theo tháng từ trước đến nay. Một số đơn vị có giá trị mua lại lớn gồm ACB với 15.000 tỷ đồng, Techcombank 14.500 tỷ đồng, MB 8.000 tỷ đồng và OCB 6.700 tỷ đồng.
Làn sóng mua lại diễn ra trong bối cảnh hoạt động phát hành mới của ngân hàng giảm đáng kể. Trong 6 tháng đầu năm, nhóm này phát hành khoảng 99.900 tỷ đồng trái phiếu, giảm gần 50% so với cùng kỳ. Giá trị mua lại vì vậy cao hơn 37,1% lượng phát hành mới.
Dòng tiền rút khỏi thị trường lớn hơn dòng vốn bổ sung khiến dư nợ trái phiếu ngân hàng cuối quý II giảm còn 641.000 tỷ đồng, thấp hơn 5,6% so với cuối năm 2025. Dù vậy, ngân hàng vẫn là nhóm phát hành lớn nhất, chiếm 46,6% tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành.
Đáng chú ý, gần 91% số trái phiếu được ngân hàng mua lại có kỳ hạn phát hành dưới 3 năm và thời gian lưu hành thực tế chưa đến 2 năm. Cơ cấu này cho thấy phần lớn giao dịch mua lại gắn với quản trị nguồn vốn ngắn và trung hạn, thay vì chỉ nhằm xử lý các khoản nợ sắp đáo hạn.
Tái cơ cấu nguồn vốn và áp lực bảo đảm an toàn
Việc mua lại lượng lớn trái phiếu trước hạn phản ánh nhu cầu điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng. Khi thanh khoản cho phép, tổ chức tín dụng có thể tất toán những lô trái phiếu không còn phù hợp nhằm giảm nợ phải trả, phân bổ lại lịch đáo hạn và tạo dư địa phát hành các khoản nợ mới có kỳ hạn sát hơn với nhu cầu sử dụng vốn.
Trên thực tế, một số ngân hàng đồng thời xây dựng kế hoạch mua lại và phát hành mới. Chẳng hạn, ACB dự kiến phát hành 20.000 tỷ đồng trái phiếu trong năm 2026, song cũng lên kế hoạch mua lại trước hạn 15.000 tỷ đồng. Điều này cho thấy hoạt động mua lại không đồng nghĩa ngân hàng rút khỏi kênh trái phiếu, mà có thể là một phần của quá trình thay thế và làm mới cơ cấu huy động.
Bài toán chi phí cũng trở nên đáng chú ý khi mặt bằng lãi suất trái phiếu ngân hàng tăng. Theo FiinGroup, lãi suất phát hành bình quân của nhóm ngân hàng trong tháng 6/2026 ở mức 8,3%/năm, cao hơn khoảng 2 điểm phần trăm so với bình quân giai đoạn 2023–2025. Biên độ lãi suất dao động từ 4,6% đến 10,7%/năm.
Trong bối cảnh chi phí phát hành mới tăng, các ngân hàng có thanh khoản thuận lợi có thể ưu tiên sử dụng nguồn vốn hiện có để mua lại một phần trái phiếu, qua đó giảm nghĩa vụ lãi và hạn chế huy động bằng mọi giá. Tuy nhiên, hiệu quả tiết giảm chi phí còn phụ thuộc vào lãi suất, kỳ hạn và điều khoản của từng lô trái phiếu.
Nếu ngân hàng mua lại khoản nợ có lãi suất cao hoặc không còn phù hợp với cơ cấu tài sản, giao dịch có thể giúp cải thiện chi phí vốn. Ngược lại, trường hợp tất toán trái phiếu lãi suất thấp rồi phát hành lô mới với lãi suất cao hơn, chi phí huy động có thể gia tăng. Vì vậy, số liệu mua lại cần được xem xét cùng diễn biến phát hành mới và đặc điểm từng khoản nợ.
Một yếu tố khác là yêu cầu rà soát danh mục sau khi Nghị định số 200/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 5/6/2026. Quy định mới siết chặt điều kiện đối với nhà đầu tư, nâng yêu cầu quản trị, sử dụng dòng tiền, công bố thông tin và giám sát hoạt động phát hành. Theo FiinGroup, những thay đổi này góp phần thúc đẩy một số ngân hàng chủ động xem xét lại các lô trái phiếu đang lưu hành.
Dù vậy, Nghị định số 200/2026/NĐ-CP không đặt ra yêu cầu chung buộc ngân hàng phải mua lại trái phiếu trước hạn. Tác động của quy định mới chủ yếu thể hiện qua việc nâng chuẩn quản trị và tạo động lực để tổ chức phát hành cơ cấu lại danh mục phù hợp hơn.
Hoạt động mua lại cũng cần được nhìn trong mối quan hệ với vốn cấp 2 và tỷ lệ an toàn vốn. Trái phiếu được tính vào vốn cấp 2 phải là nợ thứ cấp và đáp ứng các điều kiện về kỳ hạn, khả năng hấp thụ tổn thất cùng điều khoản mua lại. Từ năm thứ năm trước khi đáo hạn, giá trị được tính vào vốn cấp 2 sẽ giảm dần 20% mỗi năm và về 0 vào đầu năm cuối cùng.
Do phần lớn trái phiếu được mua lại trong kỳ có thời hạn phát hành dưới 3 năm, không phải toàn bộ gần 137.000 tỷ đồng đều liên quan trực tiếp tới vốn cấp 2. Hoạt động này chủ yếu phản ánh quá trình quản trị thanh khoản, chi phí và kỳ hạn nguồn vốn. Bài toán vốn cấp 2 chỉ đặt ra đối với các lô nợ thứ cấp dài hạn đủ điều kiện tính vào vốn tự có.
Với nhóm trái phiếu này, tác động tới hệ số an toàn vốn phụ thuộc vào phương án thay thế. Mua lại nợ thứ cấp khi chưa bổ sung nguồn vốn khác có thể làm giảm vốn cấp 2 và gây sức ép lên CAR. Ngược lại, mua lại những lô sắp bị khấu trừ khỏi vốn tự có để phát hành trái phiếu dài hạn mới có thể giúp ngân hàng làm mới cấu trúc vốn, duy trì dư địa tăng trưởng tài sản và tín dụng.
Kỷ lục mua lại trái phiếu vì vậy không đơn thuần là dòng tiền rút khỏi thị trường. Phía sau con số gần 137.000 tỷ đồng là quá trình cân đối giữa chi phí huy động, thanh khoản, kỳ hạn nguồn vốn và yêu cầu an toàn. Khi tăng trưởng tín dụng tiếp tục tạo nhu cầu vốn lớn, khả năng thay thế lượng trái phiếu đã mua lại bằng vốn dài hạn, vốn cấp 2 hoặc vốn chủ sở hữu sẽ quyết định dư địa mở rộng của từng ngân hàng.