Tín dụng toàn ngành tăng 9% từ đầu năm 2026, trong đó NCB dẫn đầu với mức tăng 30,7%. Theo TCBS Research, dòng vốn đang dịch chuyển rõ hơn sang doanh nghiệp, bất động sản, các dự án lớn và các khoản vay dài hạn.
Theo Báo cáo cập nhật kết quả kinh doanh quý II/2026 ngành Ngân hàng của TCBS Research, tín dụng toàn ngành tiếp tục tăng tốc trong quý II, song mức tăng trưởng có sự phân hóa mạnh giữa các ngân hàng.

Tính từ đầu năm 2026, tín dụng toàn ngành tăng 9%. Riêng trong quý II, các ngân hàng giải ngân thêm khoảng 811.000 tỷ đồng, tăng 5,5% so với quý I và cao gấp 1,7 lần mức tăng 475.400 tỷ đồng của quý trước.
NCB đang dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng tín dụng với 30,7% từ đầu năm. Theo sau là VPBank tăng 23,2%, HDBank 21,8%, Techcombank 15,2% và MB 13,2%.
TCBS Research cho rằng nhóm ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp hạn mức tín dụng cao đang tận dụng lợi thế để mở rộng cho vay doanh nghiệp, tài trợ các dự án lớn và hỗ trợ quá trình tái cơ cấu.
Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng khoảng 5-5,5% theo định hướng điều hành. Không ngân hàng nào trong nhóm này ghi nhận giảm dư nợ, nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn thấp hơn nhóm được phân bổ hạn mức cao.
Huy động vốn thấp hơn tín dụng

Theo TCBS Research, triển vọng tín dụng trong nửa cuối năm sẽ phụ thuộc chủ yếu vào hạn mức tín dụng được cấp thêm và khả năng huy động vốn.
Từ đầu năm, tiền gửi mới tăng 5,5%, thấp hơn tốc độ tăng tín dụng. Điều này khiến nguồn vốn huy động tiếp tục là yếu tố cần theo dõi khi các ngân hàng mở rộng cho vay.
Tuy nhiên, một số điều chỉnh gần đây của NHNN được kỳ vọng tạo thêm dư địa cho hệ thống. Trong đó có việc nới lộ trình tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và tính tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn huy động khi xác định LDR.
Dòng vốn ngân hàng trong quý II có xu hướng tập trung nhiều hơn vào khu vực doanh nghiệp.
Trong 26 ngân hàng được khảo sát, dư nợ thương mại và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất, ở mức 39,6%, tiếp theo là công nghiệp với 22,2%. Cho vay kinh doanh bất động sản chiếm 6,5% tổng dư nợ.
Đáng chú ý, tín dụng bất động sản tăng 19,8% từ đầu năm, gần gấp đôi mức tăng 10,3% của tổng dư nợ.
Trong cùng kỳ, tín dụng thương mại và dịch vụ tăng 11,3%, còn tín dụng công nghiệp tăng 11,6%.
Xét về tỷ trọng dư nợ dành cho kinh doanh bất động sản, SHB đứng đầu với 26,4%, tiếp theo là BVBank 26,2%, Techcombank 22,1% và VPBank 19,4%.
Bốn ngân hàng này có tổng dư nợ bất động sản hơn 754.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 57% tổng dư nợ bất động sản được thống kê.
Ở chiều ngược lại, tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thuộc về những ngân hàng đang mở rộng phân khúc bất động sản từ nền thấp. VIB tăng 57,9%, TPBank tăng 54,5%, VPBank tăng 42,6%, MB tăng 38,2% và OCB tăng 31,7%.
Xét về mức tăng tuyệt đối, VPBank và MB dẫn đầu khi lần lượt tăng thêm 88.300 tỷ đồng và 46.300 tỷ đồng dư nợ bất động sản.

TCBS Research nhận định, cho vay doanh nghiệp sẽ tiếp tục là một trong những trụ cột tăng trưởng tín dụng trong nửa cuối năm, nhờ nhu cầu vốn phục vụ đầu tư công, hạ tầng và các dự án trọng điểm.
Ngân hàng giảm tỷ trọng cho vay cá nhân
Một thay đổi đáng chú ý khác là cơ cấu khách hàng vay vốn.
Tại 19 ngân hàng có số liệu so sánh, tỷ trọng cho vay cá nhân giảm từ 44,4% giữa năm 2024 xuống 39,5% trong quý II/2026. Riêng trong 6 tháng đầu năm, tỷ trọng này giảm 2,1%.
Theo TCBS Research, nguyên nhân chủ yếu đến từ việc nhu cầu vay mua nhà và tín dụng tiêu dùng chưa phục hồi mạnh, trong khi nhu cầu vốn của doanh nghiệp tăng lên cùng hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư.
Ngay cả các ngân hàng có thế mạnh bán lẻ cũng đang điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo hướng tăng cho vay doanh nghiệp.
Tại VIB, dư nợ cá nhân giảm 2% từ đầu năm, trong khi dư nợ doanh nghiệp tăng 17,8%, kéo tỷ trọng bán lẻ từ 69,8% xuống 65,8%.
ACB cũng ghi nhận dư nợ doanh nghiệp tăng 14,3%, cao hơn đáng kể mức tăng 5,1% của dư nợ cá nhân.
Dư nợ dài hạn và trái phiếu doanh nghiệp cùng tăng
Dòng vốn dài hạn tiếp tục gia tăng trong cơ cấu tín dụng.
Tỷ trọng dư nợ dài hạn toàn ngành tăng từ 30% trong quý I/2025 lên 33,2% trong quý II/2026. Ngược lại, tỷ trọng dư nợ ngắn hạn giảm từ 56,9% xuống 52,6%.
Xu hướng này cho thấy dòng vốn đang hướng nhiều hơn tới những dự án có chu kỳ giải ngân dài, trong đó có bất động sản và hạ tầng.
Ở kênh trái phiếu doanh nghiệp, dư nợ toàn ngành đạt 257.500 tỷ đồng vào cuối quý II, tăng 42,5% so với quý I và tăng 20,4% so với đầu năm.
Techcombank là ngân hàng đóng góp lớn nhất vào mức tăng này. Riêng trong quý II, ngân hàng tăng thêm 45.400 tỷ đồng, nâng danh mục trái phiếu doanh nghiệp lên 102.100 tỷ đồng, tương đương gần 60% mức tăng toàn ngành.
Theo TCBS Research, trái phiếu doanh nghiệp sẽ tiếp tục đóng vai trò là kênh bổ trợ cho tín dụng trong nửa cuối năm.
Tuy nhiên, rủi ro hiện được đánh giá tập trung nhiều hơn ở mức độ tập trung danh mục tại một số ngân hàng, thay vì nằm ở quy mô của toàn hệ thống.
Nhìn tổng thể, bức tranh tín dụng nửa đầu năm 2026 cho thấy dòng vốn ngân hàng đang có sự dịch chuyển rõ rệt: từ tín dụng cá nhân sang doanh nghiệp, từ khoản vay ngắn hạn sang dài hạn và tăng tốc tại các lĩnh vực như bất động sản, hạ tầng và những dự án quy mô lớn.