TP.HCM đang tính toán lại cách chống ngập theo hướng kết hợp giữa cống, đê bao, trạm bơm với hồ điều hòa, không gian trữ nước và hệ thống kênh rạch. Với 87 dự án, tổng kinh phí dự kiến hơn 140.000 tỷ đồng, thành phố hướng tới giải pháp dài hạn thay vì chỉ xử lý từng điểm ngập.
Từ nâng đường, nâng nhà đến quy hoạch 'không gian' cho nước
Trong nhiều năm, nâng đường, nâng nền nhà và mở rộng hệ thống cống là những giải pháp thường được áp dụng để xử lý ngập tại TP.HCM. Tuy nhiên, cách làm này đang bộc lộ những hạn chế khi thành phố đồng thời chịu tác động của mưa lớn, triều cường, nước biển dâng và sụt lún.
Tại một số tuyến đường, khi mặt đường được nâng cao, nền nhà dân lại trở nên thấp hơn. Người dân tiếp tục phải nâng nền để tránh nước tràn vào nhà. Nếu việc nâng cao độ chỉ được thực hiện riêng lẻ, không gắn với quy hoạch toàn lưu vực, nước có thể bị dồn sang khu vực khác.
Đây cũng là vấn đề được KTS Khương Văn Mười, nguyên Chủ tịch Hội Kiến trúc sư TP.HCM, lưu ý khi trao đổi với báo chí về bài toán cốt nền.
Theo ông, thành phố cần tính đến một cốt nền phù hợp với điều kiện mới, trong đó phải xét đến biến đổi khí hậu, nước biển dâng, mưa lớn và sụt lún thay vì chỉ căn cứ vào cao độ hiện tại.
Từ thực tế này, chống ngập đang được đặt trong một cách tiếp cận rộng hơn: không chỉ tìm cách đưa nước ra khỏi đô thị mà phải tạo thêm không gian để nước tạm thời lưu lại.

Theo kế hoạch giải quyết tình trạng ngập nước giai đoạn 2026-2030, TP.HCM dự kiến triển khai 87 dự án với tổng mức đầu tư khoảng 142.341 tỷ đồng, nhằm xử lý 50 vị trí ngập nặng. Trong đó, giai đoạn 2026-2027 có 54 dự án, tổng vốn khoảng 69.348 tỷ đồng, giải quyết 33 vị trí; giai đoạn 2028-2030 có 33 dự án, tổng mức đầu tư khoảng 72.992 tỷ đồng, xử lý 17 vị trí còn lại.
Trong hệ thống này, hồ điều hòa có thể đóng vai trò như những khu vực tạm trữ nước khi mưa lớn. Tại các khu đô thị mới, quỹ đất cho mặt nước có thể được tính ngay từ khâu quy hoạch. Với những khu vực đã phát triển dày đặc, thành phố có thể nghiên cứu hồ điều hòa ngầm, kết hợp khả năng trữ nước với công viên, sân thể thao, bãi đỗ xe hoặc các không gian công cộng.
Cách làm này không thay thế hệ thống cống hay trạm bơm, mà bổ sung thêm một tầng năng lực cho hệ thống thoát nước. Khi lượng mưa lớn đổ xuống trong thời gian ngắn, nước được giữ lại một phần trước khi thoát dần ra các tuyến tiêu chính, qua đó giảm áp lực lên cống.
Kênh rạch cũng được nhìn nhận theo hướng tương tự. Thay vì chỉ coi đây là khu vực cần chỉnh trang, các tuyến kênh, rạch cần được duy trì và khôi phục chức năng dẫn, trữ và tiêu nước.
Các dự án cải tạo rạch Xuyên Tâm, kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên, rạch Văn Thánh, kênh Đôi... đang góp phần mở rộng năng lực thoát nước của thành phố. Việc di dời nhà ở trên và ven kênh rạch cũng tạo điều kiện để mở rộng dòng chảy, xây dựng hạ tầng và tổ chức lại không gian ven nước.
Theo kế hoạch, TP.HCM đặt mục tiêu triển khai khoảng 43 dự án di dời nhà ở trên và ven kênh rạch, với hơn 41.500 căn nhà được di dời đến năm 2030. Nếu thực hiện đồng bộ, quỹ đất sau di dời không chỉ phục vụ giao thông, hạ tầng mà còn có thể dành cho hành lang thoát nước và không gian công cộng.
Từ công trình chống ngập đến quy hoạch thích ứng
Hạ tầng cứng vẫn là phần quan trọng trong chiến lược chống ngập của TP.HCM. Dự án giải quyết ngập do triều khu vực TP.HCM có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu đang tiến đến giai đoạn hoàn thiện. Công trình gồm 8 cống kiểm soát triều có khẩu độ từ 20 - 160 m, kết hợp các trạm bơm, với phạm vi kiểm soát khoảng 570 km².
Khi hoàn thành, hệ thống được kỳ vọng kiểm soát ngập do triều cho khu vực rộng lớn của thành phố, đồng thời tạo điều kiện để chủ động điều tiết mực nước trong các tuyến kênh, rạch.
Trước đó, chia sẻ với báo Thanh niên, PGS. TS Hồ Long Phi, nguyên Viện trưởng Viện Nước và biến đổi khí hậu (ĐH Quốc gia TP.HCM), đánh giá hệ thống này có ý nghĩa lớn trong kiểm soát ngập do triều. Theo ông, khi dự án vận hành, việc hạ mực nước trong kênh rạch sẽ tạo thêm khả năng tiếp nhận nước mưa khi xuất hiện mưa lớn.
“Do đó, muốn kiểm soát ngập do triều thì phải đưa dự án vào vận hành càng sớm càng tốt”, PGS-TS Hồ Long Phi nhấn mạnh.
Tuy nhiên, kiểm soát triều chỉ giải quyết một phần bài toán. Khi mưa lớn xảy ra, nước vẫn cần nơi để chứa và đường để thoát. Vì vậy, nếu chỉ tiếp tục xây thêm cống mà không bổ sung không gian trữ nước, khả năng tiêu thoát của đô thị vẫn có thể gặp giới hạn.
Đây là lý do quy hoạch sử dụng đất ngày càng có vai trò quan trọng trong chiến lược chống ngập. Những khu vực thấp trũng, có khả năng trữ nước cần được tính toán trong quy hoạch thay vì phủ kín bằng công trình xây dựng.
Việc dành đất cho hồ điều hòa, công viên ngập nước, hành lang kênh rạch hay các khu vực có thể tạm thời chứa nước đồng nghĩa với việc phải cân đối lại quỹ đất dành cho nhà ở, thương mại và các chức năng đô thị khác. Tuy nhiên, nếu không tính từ đầu, thành phố có thể phải trả chi phí cao hơn về sau để nâng đường, nâng nền, mở rộng cống hoặc giải tỏa nhà ở nhằm khôi phục không gian thoát nước.
TP.HCM cũng đang nghiên cứu hệ thống quản lý thoát nước dựa trên dữ liệu mưa, triều, mực nước và khả năng vận hành của các công trình. Việc kết nối dữ liệu giữa hệ thống thoát nước và thủy lợi, cùng ứng dụng công nghệ trong dự báo và điều phối, được kỳ vọng giúp thành phố chủ động hơn khi xảy ra các đợt mưa lớn hoặc triều cường.

Bên cạnh dự án chống ngập do triều, thành phố còn triển khai nhiều công trình thoát nước theo từng lưu vực. Dự án cải thiện hệ thống thoát nước, nước thải và thích ứng biến đổi khí hậu lưu vực Tây Sài Gòn (CRUS2) có tổng mức đầu tư 7.688 tỷ đồng, triển khai trên địa bàn 8 phường phía tây gồm Đông Hưng Thuận, Trung Mỹ Tây, Tân Thới Hiệp, An Hội Tây, Tân Sơn, Tây Thạnh, Tân Sơn Nhì và Bình Hưng Hòa.
Như vậy, chống ngập tại TP.HCM đang chuyển từ cách xử lý từng điểm sang tổ chức lại toàn bộ hệ thống theo lưu vực. Cống, đê bao, trạm bơm vẫn cần thiết, nhưng sẽ phải kết hợp với hồ điều hòa, kênh rạch, vùng trũng và các không gian có khả năng giữ nước.
Với tổng vốn dự kiến 142.341 tỷ đồng cho 87 dự án, vấn đề đặt ra không chỉ là xây được bao nhiêu công trình mà còn là cách các công trình này kết nối với nhau và được tích hợp vào quy hoạch đô thị.
Trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn chế, “dành đất cho nước” sẽ trở thành một yêu cầu cần được tính trước trong quy hoạch. Đây có thể là hướng giúp TP.HCM giảm phụ thuộc vào việc liên tục nâng đường, nâng nền và mở rộng công trình thoát nước, đồng thời tạo dư địa để đô thị thích ứng tốt hơn với mưa lớn, triều cường và sụt lún trong dài hạn.