Giá tiêu trong nước ngày 02/11 ghi nhận mức giảm ba phiên liên tiếp dưới mốc 137.000 đồng/kg tại các địa phương trọng điểm. Trong khi đó, hoạt động xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng tích cực, đặc biệt tại thị trường Mỹ.
Giá tiêu trong nước giảm liên tiếp, mất mốc 137.000 đồng/kg
Theo dữ liệu cập nhật ngày 02/11, giá hồ tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm tiếp tục giảm 1.000 đồng/kg so với phiên trước, đưa mặt bằng thu mua xuống còn 134.000–136.500 đồng/kg.
Cụ thể, giá tiêu tại Đắk Lắk giảm 1.000 đồng/kg, xuống còn 136.500 đồng/kg, tiếp tục là địa phương có mức thu mua cao nhất. Tại Lâm Đồng, giá tiêu giảm tương ứng, về mức 135.500 đồng/kg.
Ở khu vực phía Nam, giá tiêu tại TP.HCM giảm 1.000 đồng/kg, còn 134.500 đồng/kg. Hai địa phương Gia Lai và Đồng Nai cùng ghi nhận mức thu mua 134.000 đồng/kg, thấp nhất trong nhóm khảo sát.
Tính chung cả tuần, giá tiêu trong nước giảm khoảng 3.000–4.500 đồng/kg so với tuần trước đó. Trong đó, khu vực Đắk Nông cũ thuộc tỉnh Lâm Đồng ghi nhận mức giảm mạnh nhất, khoảng 4.500 đồng/kg, xuống còn 135.500 đồng/kg. Đắk Lắk giảm 3.500 đồng/kg, còn các khu vực Gia Lai, Bà Rịa – Vũng Tàu cũ và Bình Phước cũ giảm khoảng 3.000 đồng/kg.
Khép lại tháng 10, thị trường hồ tiêu trong nước chứng kiến biến động trái chiều khi đà giảm giá chiếm thế chủ đạo. Đầu tuần, mức thu mua duy trì ổn định quanh 137.000 - 140.000 đồng/kg dù ghi nhận nhịp điều chỉnh nhẹ ở Đắk Nông. Bước sang hai ngày cuối tháng, sức ép từ lực bán gia tăng cùng tâm lý phòng thủ của giới thương lái đã đẩy mặt bằng giá nội địa trượt sâu xuống vùng 135.000 - 137.500 đồng/kg.
Như vậy, sau chuỗi phiên điều chỉnh liên tiếp, giá tiêu tại các vùng trồng trọng điểm đã lùi xuống dưới mốc 137.000 đồng/kg. Diễn biến này cho thấy áp lực giảm giá vẫn hiện hữu trên thị trường nội địa, dù hoạt động xuất khẩu của ngành hồ tiêu chưa mất đi động lực tăng trưởng.
Theo thống kê từ Cục Hải quan, xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam trong tháng 9/2026 đạt 25.150 tấn, thu về 163,5 triệu USD. So với tháng 8/2026, lượng xuất khẩu tăng 10,6% và kim ngạch tăng 10,8%. So với cùng kỳ năm trước, các mức tăng lần lượt đạt 23,4% về lượng và 20,4% về trị giá.
Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 216.660 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch khoảng 1,41 tỷ USD, tăng 16,2% về lượng và 11,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam với 52.740 tấn trong 9 tháng, chiếm 24,34% tổng lượng xuất khẩu. So với cùng kỳ năm trước, lượng hàng xuất sang thị trường này tăng 26,3%, còn kim ngạch tăng 21,4%.
Dù vậy, giá xuất khẩu bình quân vẫn là yếu tố cần lưu ý. Trong tháng 9/2026, giá bình quân đạt 6.501 USD/tấn, tăng nhẹ 0,1% so với tháng trước nhưng giảm 2,5% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 9 tháng, mức giá bình quân đạt 6.509 USD/tấn, giảm 4,1%.
Những số liệu này cho thấy xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam vẫn tăng trưởng nhờ sản lượng bán ra, trong khi giá bình quân chưa phục hồi so với năm trước. Đây cũng là một trong những yếu tố khiến đà tăng trưởng thương mại chưa chuyển hóa thành lực hỗ trợ rõ rệt cho giá thu mua trong nước.
Giá tiêu thế giới tiếp tục biến động tại một số thị trường
Trên thị trường thế giới, dữ liệu cập nhật đến ngày 02/11 từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cho thấy giá tiêu tại Indonesia và Brazil giảm trong tuần qua, trong khi các thị trường xuất khẩu chủ chốt khác tương đối ổn định.
Cụ thể, giá tiêu đen Lampung của Indonesia giảm 50 USD/tấn, tương đương 0,73%, xuống còn 6.800 USD/tấn. Giá tiêu trắng Muntok cũng giảm 68 USD/tấn, tương ứng 0,73%, về mức 9.286 USD/tấn. Tại Brazil, giá tiêu đen ASTA 570 giảm 100 USD/tấn, tương đương 1,72% so với tuần trước, xuống còn 5.700 USD/tấn.

Trong khi đó, giá tiêu đen ASTA của Malaysia duy trì ở mức 9.100 USD/tấn. Tại Việt Nam, giá tiêu đen loại 500 g/l đạt 5.950 USD/tấn, loại 550 g/l ở mức 5.995 USD/tấn. Giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục ổn định ở mức 8.450 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, giá Muntok Indonesia giảm về 9.286 USD/tấn, trong khi Malaysia duy trì mức 12.000 USD/tấn theo bảng giá IPC được Vietnambiz cập nhật.
Diễn biến giảm tại Indonesia và Brazil cho thấy áp lực điều chỉnh không chỉ xuất hiện ở thị trường nội địa Việt Nam mà còn lan sang một số quốc gia sản xuất lớn. Tuy nhiên, giá tại Malaysia và Việt Nam vẫn tương đối ổn định, phản ánh sự phân hóa giữa các thị trường xuất khẩu.
Trong thời gian tới, giá hồ tiêu sẽ tiếp tục chịu tác động từ sức mua của các thị trường nhập khẩu lớn, diễn biến nguồn cung tại các quốc gia sản xuất và giá xuất khẩu bình quân. Dù nhu cầu tiêu thụ vẫn là yếu tố hỗ trợ dài hạn, thị trường cần thêm tín hiệu mua hàng tích cực để tạo lực đỡ cho giá trong nước.