Lãi suất ngân hàng hôm nay 10/9/2026 tiếp tục duy trì ổn định tại nhóm Big4. Agribank, Vietcombank, VietinBank và BIDV chưa thay đổi biểu lãi suất huy động trực tuyến trong những tháng gần đây, với mức cao nhất khoảng 6,8%/năm dành cho khách hàng thông thường.

Tuy nhiên, với những khoản tiền gửi có giá trị lớn, lãi suất thực tế có thể lên tới 8%/năm, cho thấy cuộc cạnh tranh huy động vốn vẫn diễn ra dù biểu niêm yết công khai chưa có nhiều thay đổi.
Big4 giữ nguyên lãi suất huy động
Bốn ngân hàng thương mại quốc doanh gồm Agribank, Vietcombank, VietinBank và BIDV tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất huy động cao nhất 6,8%/năm đối với khách hàng thông thường.
Theo biểu lãi suất tiết kiệm trực tuyến được niêm yết tại nhóm Big4, các kỳ hạn từ 1 đến 5 tháng cùng duy trì ở mức 4,75%/năm.
Đây là mức lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Đối với kỳ hạn 6-11 tháng, nhóm Big4 tiếp tục niêm yết mức 6,6%/năm.
Kỳ hạn 12-18 tháng được áp dụng mức 6,8%/năm.
Riêng BIDV, Agribank và VietinBank cùng niêm yết lãi suất tiết kiệm 6,8%/năm cho các kỳ hạn từ 24-36 tháng.
Trong khi đó, Vietcombank niêm yết lãi suất cho các kỳ hạn từ 24 tháng ở mức 6,3%/năm, thấp hơn so với 3 ngân hàng còn lại.
Mức lãi suất công khai nói trên chủ yếu áp dụng cho khách hàng thông thường.
Theo chia sẻ của một nhân viên đang làm việc tại một ngân hàng Big4, lãi suất tiền gửi thực tế có thể lên tới 8%/năm ngay từ kỳ hạn 6 tháng nếu khách hàng gửi số tiền từ 10 tỷ đồng trở lên.
Điều này cho thấy mức lãi suất niêm yết chưa phản ánh hoàn toàn chính sách huy động đối với nhóm khách hàng có lượng tiền gửi lớn.
Trong bối cảnh nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đang cạnh tranh huy động vốn bằng cách cộng thêm lãi suất cho người gửi, các ngân hàng lớn cũng chịu áp lực phải giữ chân nguồn tiền.
Dù lãi suất niêm yết thấp hơn nhiều ngân hàng thương mại cổ phần, nhóm Big4 vẫn có lợi thế rất lớn về quy mô khách hàng và thị phần huy động.
Big4 đang nắm hơn một nửa thị phần huy động

Theo báo cáo, đến hết quý II/2026, nhóm Big4 đang nắm giữ trên 50% thị phần huy động của hệ thống ngân hàng.
Với số dư tiền gửi đến ngày 30/6 đạt 2,26 triệu tỷ đồng, Agribank tiếp tục dẫn đầu hệ thống về lượng tiền gửi khách hàng.
Đây cũng là quý thứ hai liên tiếp Agribank vượt BIDV để đứng đầu bảng xếp hạng này.
BIDV đứng thứ hai với 2,23 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng trong nửa đầu năm, tăng gần 41.000 tỷ đồng, tương đương 1,86%, so với cuối năm ngoái.
Hai ngân hàng còn lại trong nhóm Big4 tiếp tục chia nhau hai vị trí trong tốp 4.
VietinBank đứng thứ ba với 1,88 triệu tỷ đồng, tăng hơn 95.000 tỷ đồng, tương đương 5,31%.
Vietcombank đứng thứ tư với 1,73 triệu tỷ đồng, tăng hơn 55.000 tỷ đồng, tương đương 3,32%.
Ngoài Big4, Top 10 ngân hàng có số dư tiền gửi khách hàng lớn nhất còn có MB, VPBank, HDBank, Techcombank, Sacombank và SHB.
Cả 10 nhà băng này đều ghi nhận số dư tiền gửi tăng trong 6 tháng đầu năm.
Một diễn biến đáng chú ý khác là thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã được cải thiện mạnh kể từ tháng 8.
Trong phiên giao dịch ngày 8/9, lãi suất bình quân liên ngân hàng giảm 0,9-1 điểm phần trăm ở các kỳ hạn ngắn, trong khi tăng 0,15 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 tháng so với phiên trước đó.
Lãi suất bình quân kỳ hạn qua đêm ở mức 2,5%/năm.
Kỳ hạn 1 tuần là 3,5%/năm, kỳ hạn 2 tuần 4,7%/năm và kỳ hạn 1 tháng 6,15%/năm.
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 diễn ra chiều 3/9, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cho biết, tính đến ngày 22/8, huy động vốn bằng VND tăng 8,77% so với đầu năm.
Trong khi đó, dư nợ tín dụng bằng VND tăng 8,38%.
Việc nguồn vốn huy động tăng nhanh hơn tín dụng là một trong những yếu tố giúp thanh khoản của hệ thống ngân hàng cải thiện.
Đây là sự thay đổi đáng kể so với cuối quý II, khi hoạt động cho vay tăng nhanh trong khi tiền gửi chưa theo kịp.
Nhiều chính sách hỗ trợ thanh khoản
Thanh khoản hệ thống ngân hàng được cải thiện trong bối cảnh hàng loạt chính sách hỗ trợ được ban hành.
Trong đó có Thông tư 08/2026 về tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào LDR.
Thông tư 25/2026 cũng nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, có hiệu lực từ 1/7/2026.
Bên cạnh đó, NHNN có văn bản số 5386/NHNN-TD về cơ chế tín dụng, tạo hành lang pháp lý đặc thù nhằm giải quyết nhu cầu vốn khổng lồ cho 18 dự án trọng điểm.
Nghị quyết 168/NQ-CP về sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để bổ sung thanh khoản cho hệ thống ngân hàng phục vụ mục tiêu tăng trưởng GDP là 2 con số cũng góp phần hỗ trợ thanh khoản toàn hệ thống.
Vì sao lãi suất vẫn khó giảm sâu?
Thanh khoản cải thiện không đồng nghĩa áp lực lãi suất đã biến mất.

Khi nhu cầu tín dụng tăng nhanh, đặc biệt từ các dự án đầu tư quy mô lớn, tốc độ tăng tiền gửi vẫn phải đủ để đáp ứng nhu cầu vốn mới.
Nếu tín dụng tăng nhanh hơn huy động, chi phí vốn của ngân hàng sẽ chịu áp lực.
Theo các chuyên gia, khi tiền trong hệ thống dồi dào nhưng nhu cầu vay yếu, giá của tiền sẽ giảm.
Ngược lại, khi doanh nghiệp, người dân và hàng loạt dự án lớn cùng cần vốn, trong khi tiền gửi vào hệ thống ngân hàng không tăng tương ứng, tiền sẽ trở nên có giá hơn và rất khó để giảm thêm.
Đây cũng là lý do mặt bằng lãi suất huy động khó giảm sâu trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục tăng.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, nền kinh tế cần mở rộng đầu tư trên nhiều lĩnh vực, trong đó có các dự án hạ tầng giao thông lớn, sân bay Long Thành, sân bay Gia Bình... qua đó thúc đẩy sản xuất, công nghệ và bất động sản.
Vì vậy, dù thanh khoản hệ thống đã có dấu hiệu tích cực hơn, diễn biến lãi suất ngân hàng trong những tháng tới vẫn sẽ phụ thuộc đáng kể vào tốc độ tăng tín dụng và khả năng thu hút tiền gửi của các ngân hàng.