Sau nhà ở xã hội, khu công nghiệp và các dự án trọng điểm, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh cách kiểm soát tín dụng bất động sản, lần này với nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, sinh thái và nghỉ dưỡng.

Ngày 16/9/2026, Ngân hàng Nhà nước có Công văn số 8509/NHNN-CSTT về tăng trưởng tín dụng năm 2026 gửi các tổ chức tín dụng.
Theo đó, kể từ ngày 1/1/2026 đến hết ngày 31/12/2026, các tổ chức tín dụng không phải tính phần dư nợ tín dụng tăng thêm so với cuối năm 2025 đối với nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, sinh thái, nghỉ dưỡng vào dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản khi kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng bất động sản theo nội dung tại điểm 4 Công văn số 11686/NHNN-CSTT ngày 31/12/2025.
Ngân hàng Nhà nước cho biết việc điều chỉnh nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng trong việc cấp tín dụng đối với một số loại hình bất động sản phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước và chính sách của các cấp có thẩm quyền.
Công văn số 8509/NHNN-CSTT được ban hành sau một số điều chỉnh liên quan đến cách tính tăng trưởng tín dụng trong năm 2026.
Theo Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 6/2026, dư nợ cấp tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản đạt 5,146 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm 2025 và chiếm 25,5% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế.
Theo Công văn số 11686/NHNN-CSTT ngày 31/12/2025 về kiểm soát tăng trưởng tín dụng năm 2026, Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%. Trong đó, nhà điều hành yêu cầu tốc độ tăng trưởng tín dụng lĩnh vực này của từng tổ chức tín dụng không cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của chính tổ chức tín dụng đó.
Ngày 9/1/2026, tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2026, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, đồng thời cho biết mức tăng có thể được điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Chỉ thị yêu cầu hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng; đồng thời kiểm soát tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản và các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Đến ngày 29/5/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Công văn số 4551/NHNN-CSTT. Theo văn bản này, trong năm 2026, phần dư nợ tăng thêm so với cuối năm 2025 đối với nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất không phải tính vào dư nợ bất động sản khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng bất động sản đối với các ngân hàng thương mại thuộc phạm vi áp dụng.
Tiếp đó, ngày 22/6/2026, Công văn số 5386/NHNN-TD cho phép loại trừ dư nợ phát sinh mới đối với 18 dự án trọng điểm khi tính tăng trưởng tín dụng hằng năm của các ngân hàng thương mại theo phạm vi quy định tại văn bản.
Cùng thời gian này, một số quy định liên quan đến nguồn vốn của ngân hàng cũng được điều chỉnh. Thông tư số 25/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%.
Trước đó, Thông tư số 08/2026/TT-NHNN điều chỉnh cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi. Sau đó, Quyết định số 1743/QĐ-NHNN áp dụng từ ngày 1/8/2026 đến ngày 31/7/2028 cho phép tính 50% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn khi xác định tỷ lệ này, thay cho mức 20% trước đó.
Bên cạnh các điều chỉnh trên, Ngân hàng Nhà nước nhiều lần yêu cầu các ngân hàng thương mại thực hiện chủ trương giảm lãi suất. Ngày 10/4, Thông báo số 117/TB-NHNN yêu cầu giảm khoảng 0,5-1 điểm phần trăm/năm lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Các Công văn số 3972/NHNN-CSTT ngày 14/5 và 4190/NHNN-CSTT ngày 21/5 tiếp tục yêu cầu kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện giảm lãi suất.
Đến ngày 10/8, Văn bản số 7125/NHNN-TD yêu cầu các ngân hàng thương mại xây dựng chương trình tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và các động lực tăng trưởng, với lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam ưu đãi thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của ngân hàng.
Chính sách mới không đồng nghĩa mọi dự án bất động sản đều dễ tiếp cận vốn hơn. Khả năng vay vốn trên thực tế vẫn phụ thuộc vào pháp lý dự án, năng lực tài chính của chủ đầu tư, tài sản bảo đảm và tiêu chuẩn quản trị rủi ro của từng ngân hàng.