
Lợi nhuận tự doanh suy giảm, chi phí vốn tăng mạnh
Báo cáo tài chính riêng quý II/2026 của VBSE cho thấy, kết quả kinh doanh giảm mạnh so với nền cao cùng kỳ năm trước. Trong quý II/2026, doanh thu hoạt động của VBSE đạt hơn 357 tỷ đồng, giảm 38% so với mức 578,3 tỷ đồng của quý II/2025. Lợi nhuận trước thuế đạt 18,7 tỷ đồng, giảm 91,4%; lợi nhuận sau thuế còn 15,4 tỷ đồng, giảm 91% so với con số 175,7 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.
Theo văn bản giải trình gửi cơ quan quản lý ngày 17/7, VBSE cho biết tổng doanh thu quý II giảm khoảng 38%, trong khi tổng chi phí giảm 6%.
Nguyên nhân chủ yếu đến từ hoạt động đầu tư các tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL). Lãi từ tài sản FVTPL trong quý đạt 97 tỷ đồng, giảm 73,1% so với mức 361 tỷ đồng cùng kỳ. Trong đó, lãi bán tài sản tài chính FVTPL giảm từ 186,9 tỷ đồng xuống còn 18,6 tỷ đồng; chênh lệch tăng do đánh giá lại danh mục giảm từ 163,6 tỷ đồng xuống 72,3 tỷ đồng.
Ở chiều ngược lại, khoản lỗ từ tài sản FVTPL cũng giảm từ 195,8 tỷ đồng (quý II/2025) xuống 130 tỷ đồng (quý II/2026). Tuy nhiên, mức giảm chi phí này chưa đủ bù đắp vào nguồn thu tự doanh.
Biến động trên thể hiện rõ tại chỉ tiêu lợi nhuận đã thực hiện. Trong quý II/2026, lợi nhuận đã thực hiện của VBSE đạt 74,6 tỷ đồng, giảm 68,8% so với 238,8 tỷ đồng cùng kỳ. Phần lỗ chưa thực hiện tăng từ 21,4 tỷ đồng lên gần 55,9 tỷ đồng, phản ánh tác động bất lợi của việc đánh giá lại tài sản tài chính theo giá trị hợp lý.
Bên cạnh sự suy giảm của tự doanh, chi phí vốn cũng tạo áp lực đáng kể. Chi phí lãi vay trong quý II đạt 157,9 tỷ đồng, tăng 80% so với mức 87,7 tỷ đồng cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng, khoản chi phí này lên tới 297,7 tỷ đồng, tăng 85,2%.
Dư nợ vay ngắn hạn tại ngày 30/6/2026 ở mức 8.303 tỷ đồng, giảm 1,4% so với đầu năm. Tuy nhiên, số dư cuối kỳ không phản ánh đầy đủ quy mô vay bình quân trong kỳ. Vì vậy, mức tăng mạnh của chi phí lãi vay có thể chịu ảnh hưởng đồng thời từ mặt bằng chi phí vốn, cơ cấu kỳ hạn và biến động dư nợ trong từng thời điểm. Báo cáo hiện chưa cung cấp đủ dữ liệu để tách riêng mức độ đóng góp của từng yếu tố.
Điểm sáng trong quý đến từ hoạt động cho vay. Lãi từ các khoản cho vay và phải thu đạt 145,4 tỷ đồng, tăng 39,2% so với cùng kỳ. Lãi từ các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn cũng tăng 27,1%, lên 55,2 tỷ đồng. Hai nguồn thu này phần nào giảm bớt ảnh hưởng từ hoạt động tự doanh, nhưng chưa đủ bù đắp phần doanh thu FVTPL bị thu hẹp.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động của VBSE đạt 709 tỷ đồng, giảm 32% so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế đạt 100,7 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 81,3 tỷ đồng, lần lượt giảm 71,2% và 71,1%.
Margin tiến gần giới hạn
Tính đến ngày 30/6/2026, tổng tài sản của VBSE đạt 12.247,5 tỷ đồng, giảm 1,3% so với đầu năm. Quy mô tài sản gần như đi ngang nhưng cơ cấu bên trong có sự dịch chuyển tương đối lớn.
Dư nợ cho vay tăng 7,2%, từ 4.964,3 tỷ đồng lên 5.321,8 tỷ đồng. So với vốn chủ sở hữu 2.866 tỷ đồng, tỷ lệ dư nợ cho vay trên vốn chủ sở hữu vào khoảng 1,86 lần. Mức này vẫn nằm dưới giới hạn phổ biến đối với hoạt động cho vay giao dịch ký quỹ, song dư địa còn lại không lớn nếu công ty tiếp tục đẩy nhanh tăng trưởng tín dụng.
Với vốn chủ sở hữu gần 2.866 tỷ đồng tại cuối quý II, hạn mức lý thuyết của VBSE vào khoảng 5.732 tỷ đồng, căn cứ giới hạn dư nợ cho vay giao dịch ký quỹ không vượt quá hai lần vốn chủ sở hữu. Như vậy, quy mô cho vay hiện tại đã sử dụng gần 93% dư địa, chỉ còn cách giới hạn khoảng 410 tỷ đồng. Nếu chưa bổ sung thêm vốn, dư địa mở rộng cho vay của công ty trong các quý tiếp theo không còn nhiều.
Cùng với margin, tài sản FVTPL tăng 34,5%, lên 2.780,8 tỷ đồng. Trong khi đó, các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn, giảm 22,1% xuống 2.774,3 tỷ đồng; tài sản tài chính sẵn sàng để bán giảm 17,6%, còn 673,4 tỷ đồng.
Trong danh mục FVTPL, giá trị hợp lý của cổ phiếu niêm yết tăng từ 398 tỷ đồng đầu năm lên 892,2 tỷ đồng cuối tháng 6. Giá trị hợp lý của trái phiếu niêm yết giảm từ 1.528,9 tỷ đồng xuống 985,5 tỷ đồng, trong khi trái phiếu chưa niêm yết tăng mạnh từ 79,3 tỷ đồng lên 836,9 tỷ đồng.
Sự dịch chuyển này cho thấy VBSE đã gia tăng đáng kể tỷ trọng trái phiếu chưa niêm yết. So với trái phiếu niêm yết, nhóm tài sản này thường có mức độ minh bạch về giá và khả năng chuyển nhượng thấp hơn. Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ rủi ro tín dụng, cần có thêm thông tin về tổ chức phát hành, kỳ hạn, lãi suất, tài sản bảo đảm và các điều khoản liên quan.
Một điểm khác cần lưu ý là cổ phiếu chưa niêm yết có giá gốc 138,4 tỷ đồng nhưng giá trị hợp lý cuối kỳ chỉ còn 60,4 tỷ đồng, tương ứng thấp hơn khoảng 78 tỷ đồng, hay 56,4%. Khoảng chênh lệch lớn cho thấy chất lượng và khả năng thu hồi giá trị của nhóm tài sản này cần tiếp tục được theo dõi.
Về dòng tiền, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trong 6 tháng đầu năm 2026 âm 179,3 tỷ đồng, cải thiện đáng kể so với mức âm 1.388,4 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Dòng tiền âm chủ yếu liên quan đến việc tăng tài sản FVTPL và mở rộng cho vay. Đây là đặc thù thường gặp tại công ty chứng khoán khi tăng quy mô kinh doanh, nhưng cũng đồng nghĩa nhu cầu tài trợ vốn tiếp tục ở mức cao.
Kết quả kinh doanh quý II/2026 của VBSE phản ánh sự phân hóa giữa các mảng hoạt động. Cho vay ký quỹ duy trì tăng trưởng và tạo nguồn thu tốt hơn, trong khi tự doanh biến động mạnh và chi phí vốn gia tăng đã kéo giảm lợi nhuận. Triển vọng các quý tiếp theo, vì vậy, phụ thuộc đáng kể vào khả năng cải thiện hiệu quả danh mục FVTPL, kiểm soát chi phí huy động và quản trị rủi ro đối với dư nợ margin cũng như các tài sản chưa niêm yết.