Tín dụng tăng nhanh hơn huy động trong nửa đầu năm khiến bài toán nguồn vốn được đặt ra rõ hơn, từ tiền gửi, trái phiếu đến thị trường liên ngân hàng.

Nhiều lớp lãi suất trên thị trường tiền gửi
Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tính đến ngày 26.6, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 5,02% so với cuối năm 2025, trong khi tín dụng đối với nền kinh tế tăng 7,41%. Tốc độ tăng tín dụng cao hơn huy động 2,39 điểm phần trăm. Diễn biến này xuất hiện trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn định hướng ổn định mặt bằng lãi suất.
Tuy nhiên, khảo sát của phóng viên trên website chính thức của các ngân hàng cho thấy thị trường tiền gửi tiếp tục phân hóa.
Tại OCB, biểu lãi suất áp dụng từ ngày 1.7 ghi nhận tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 6 và 9 tháng ở mức 6,5%/năm. Kỳ hạn 12 tháng có lãi suất 6,8%/năm, kỳ hạn 24 tháng 6,9%/năm và kỳ hạn 36 tháng 7,1%/năm.
BAOVIET Bank áp dụng mức 6,6%/năm cho tiền gửi trực tuyến kỳ hạn từ 6-11 tháng và 6,7%/năm đối với kỳ hạn 12-36 tháng. Trong khi đó, lãi suất gửi tại quầy của ngân hàng này ở kỳ hạn 6 tháng là 5,5%/năm và kỳ hạn 12 tháng là 5,8%/năm. Mức chênh lệch giữa hai kênh cho thấy ngân hàng tiếp tục ưu tiên thu hút dòng tiền qua nền tảng số.
Bên cạnh lãi suất niêm yết, các chương trình cộng thêm tạo thành một lớp lãi suất khác trên thị trường.
Trong tháng 7, Cake by VPBank công bố hai chương trình cộng thêm tối đa 1,8%/năm, gồm ưu đãi dành cho khách hàng lần đầu gửi tiết kiệm và chương trình áp dụng với khoản tiền gửi từ 5 triệu đồng. Các ưu đãi đều có thời hạn đến ngày 31.7 và đi kèm điều kiện cụ thể.
Mặt bằng lãi suất công khai có thể chưa phản ánh toàn bộ mức lãi suất mà một số khách hàng có thể được hưởng. Lãi suất thực tế còn phụ thuộc vào kênh gửi, nhóm khách hàng, thời điểm tham gia, số tiền và kỳ hạn.
Huy động thêm vốn qua trái phiếu
Cùng với tiền gửi, nhiều ngân hàng tiếp tục phát hành trái phiếu để bổ sung nguồn vốn có kỳ hạn dài hơn.
Theo dữ liệu trên chuyên trang trái phiếu doanh nghiệp của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, trong ngày 30.6, ba ngân hàng có mã STB, LPB và NAB đã phát hành tổng cộng 7.900 tỉ đồng trái phiếu.
Trong đó, ngân hàng có mã STB phát hành 4.500 tỉ đồng trái phiếu kỳ hạn 6 năm, lãi suất 9,2%/năm. LPBank phát hành 3.000 tỉ đồng, kỳ hạn 3 năm, lãi suất 8,6%/năm. Nam A Bank huy động 400 tỉ đồng qua lô trái phiếu kỳ hạn 7 năm, lãi suất 9%/năm.
Đầu tháng 7, HDBank phát hành liên tiếp ba lô trái phiếu, tổng giá trị 1.700 tỉ đồng. Các lô có kỳ hạn 6-7 năm, lãi suất phát hành từ 8,5-9%/năm. Cụ thể, ngân hàng phát hành 200 tỉ đồng vào ngày 7.7, 500 tỉ đồng ngày 9.7 và 1.000 tỉ đồng ngày 10.7. Cùng thời gian, Vietcombank phát hành lô trái phiếu trị giá 100 tỉ đồng, kỳ hạn 10 năm, lãi suất 7,9%/năm.
Các đợt phát hành này bổ sung thêm nguồn vốn trung và dài hạn bên cạnh tiền gửi của khách hàng. Tùy phương án của từng đợt, trái phiếu ngân hàng có thể được sử dụng để tăng quy mô vốn hoạt động, cải thiện cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn hoặc bổ sung vốn cấp 2
Khác với tiền gửi dân cư, phần lớn các lô trái phiếu nêu trên có kỳ hạn từ 3-10 năm và được chào bán cho nhà đầu tư chuyên nghiệp. Đây là nguồn vốn có chi phí cao hơn tiền gửi niêm yết nhưng thời gian sử dụng vốn cũng dài hơn.
Cân đối vốn trên thị trường tiền tệ
Với nhu cầu ngắn hạn, các tổ chức tín dụng còn vay mượn lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng. Chia sẻ với phóng viên, ông Vũ Bình Minh - CFA, Giám đốc Kinh doanh Vốn và Tiền tệ, Khối Thị trường Vốn và Dịch vụ Chứng khoán, HSBC Việt Nam - cho biết: “Dù lãi suất điều hành được giữ nguyên, lãi suất huy động và lãi suất liên ngân hàng vẫn đi lên, duy trì ở mặt bằng cao trong nửa đầu năm”.

Diễn biến này phản ánh trạng thái của nền kinh tế tăng trưởng nhanh, trong đó nhu cầu tín dụng có thời điểm tăng nhanh hơn huy động. Hệ thống ngân hàng đồng thời cần duy trì chênh lệch lãi suất VND - USD ở mức hợp lý để góp phần ổn định kỳ vọng tỉ giá.
Ông Minh cho rằng, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành linh hoạt thông qua các công cụ thị trường mở và nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ, qua đó hỗ trợ thanh khoản hệ thống và ổn định thị trường tiền tệ khi áp lực gia tăng.
Trong quý III, nếu khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động tiếp tục nới rộng, thanh khoản có thể chịu thêm sức ép. Trong bối cảnh tăng trưởng cao kéo theo nhu cầu vốn cao nhưng lạm phát và tỉ giá cùng chịu sức ép từ môi trường bên ngoài, mặt bằng lãi suất sẽ tiếp tục phản ánh thế "cân bằng" giữa hỗ trợ tăng trưởng và ổn định vĩ mô.
Ông Minh kỳ vọng trong quý IV/2026, việc nâng hạng thị trường chứng khoán sẽ góp phần tạo nguồn cung ngoại tệ bền hơn trong trung hạn, đây có thể là một trong những yếu tố giúp giảm bớt sức ép lên tỉ giá và tạo thêm dư địa cho điều hành chính sách.