Miền Trung đang tăng đầu tư hạ tầng hàng không, từ mở rộng đường băng, nhà ga đến xây dựng sân bay mới. Tuy nhiên, để phát triển thành các đầu mối logistics, khu vực cần giải quyết thêm bài toán vận chuyển hàng hóa, kết nối cảng biển, khu công nghiệp và tổ chức chuỗi cung ứng.
Sân bay Quảng Trị mở hướng khai thác hàng hóa
Hạ tầng hàng không miền Trung đang được đầu tư với quy mô và mục tiêu khai thác ngày càng lớn. Bên cạnh phục vụ vận tải hành khách, một số dự án được định hướng phát triển năng lực vận chuyển hàng hóa, tạo thêm điều kiện kết nối hoạt động sản xuất, thương mại và xuất nhập khẩu.
Đáng chú ý, Cảng hàng không Quảng Trị được đầu tư hơn 5.800 tỷ đồng theo phương thức đối tác công tư (PPP), do liên danh Công ty Đầu tư và Phát triển hạ tầng giao thông T&T - CIENCO4 làm chủ đầu tư. Theo quy hoạch điều chỉnh, sân bay được nâng từ cấp 4C lên cấp 4E, hướng tới khả năng tiếp nhận các dòng máy bay thân rộng như Boeing 777, Boeing 787 và Airbus A350.

Khi hoàn thành, cảng hàng không này dự kiến đáp ứng nhu cầu khai thác đến 5 triệu lượt hành khách và 25.500 tấn hàng hóa mỗi năm. Đến nay, tổng khối lượng thi công của dự án đã đạt trên 80%.
Không chỉ xây dựng hạ tầng, doanh nghiệp dự án còn triển khai công tác chuẩn bị vận hành. Tháng 8/2026, đơn vị ký hợp đồng dịch vụ tư vấn với Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV), tập trung xây dựng tài liệu, thực hiện thủ tục cấp phép, tư vấn mô hình tổ chức, kế hoạch nhân sự và hoạt động quản lý, kinh doanh, khai thác cảng hàng không. Khối lượng công việc tư vấn đã đạt trên 60%.
Việc đưa chỉ tiêu vận chuyển hàng hóa vào quy hoạch cho thấy định hướng khai thác của sân bay Quảng Trị không chỉ giới hạn ở vận tải hành khách. Tuy nhiên, công suất thiết kế mới là điều kiện ban đầu. Khả năng thu hút nguồn hàng, doanh nghiệp logistics và các hãng vận tải mới quyết định hiệu quả khai thác thực tế.
Hạ tầng hàng không cần gắn với chuỗi cung ứng
Tại Gia Lai, đường cất hạ cánh số 2 của Cảng hàng không quốc tế Phù Cát đã chính thức được đưa vào khai thác sau khi chuyến bay charter đầu tiên từ Ma Cao (Trung Quốc) hạ cánh lúc 15h40 ngày 29/10.
Công trình được khởi công từ tháng 8/2025, có tổng mức đầu tư hơn 3.245 tỷ đồng, do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông và nông nghiệp tỉnh Gia Lai làm chủ đầu tư. Sau khi đưa vào khai thác, sân bay có khả năng tiếp nhận các loại tàu bay Code C như A320, A321 và tương đương; đồng thời có thể tiếp nhận tàu bay Code E khi đáp ứng đầy đủ điều kiện khai thác.

Trong khi đó, Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng đang được đầu tư gần 10.000 tỷ đồng để cải tạo, mở rộng Nhà ga hành khách T1 và mở rộng sân đỗ máy bay giai đoạn 1. Theo thiết kế, công suất Nhà ga T1 sẽ được nâng lên 14 triệu hành khách/năm, bổ sung 6 vị trí đỗ máy bay Code C.
Các dự án này góp phần tăng năng lực tiếp nhận tàu bay và hành khách. Tuy nhiên, để chuyển năng lực hàng không thành lợi thế logistics, cần có sự kết nối giữa sân bay với các khu sản xuất, trung tâm phân phối, cảng biển và hệ thống kho bãi.
Đặc biệt, vận tải hàng hóa bằng đường hàng không có yêu cầu cao về thời gian giao nhận, bảo quản và tổ chức vận chuyển. Nếu thiếu hệ thống kho hàng chuyên dụng, dịch vụ xử lý hàng hóa và mạng lưới vận tải kết nối, lợi thế về hạ tầng sân bay khó chuyển thành năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Do đó, bài toán đặt ra không chỉ là xây dựng thêm nhà ga hay đường băng, mà còn phải xác định nguồn hàng, thị trường tiêu thụ và phương thức tổ chức vận tải phù hợp với đặc điểm kinh tế từng địa phương.
Thiếu liên kết đồng bộ, khó hình thành đầu mối logistics
Một trong những điều kiện quan trọng để phát triển logistics hàng không là khả năng kết nối đa phương thức. Sân bay cần được liên thông với đường bộ, cảng biển, khu công nghiệp và các trung tâm dịch vụ để hàng hóa có thể lưu chuyển thuận lợi giữa các khâu.
Với miền Trung, việc phát triển đồng thời nhiều cảng hàng không đặt ra yêu cầu phân định rõ vai trò của từng đầu mối. Thay vì cùng tập trung vào một mô hình khai thác, mỗi sân bay cần được tính toán theo nhu cầu vận tải, cơ cấu sản xuất và lợi thế kinh tế của địa phương.
Cảng hàng không Quảng Trị có quy hoạch năng lực vận chuyển 25.500 tấn hàng hóa mỗi năm, trong khi Phù Cát và Đà Nẵng đang được tăng cường năng lực khai thác. Đây là cơ sở để các địa phương nghiên cứu mở rộng hoạt động vận tải hàng hóa, nhưng cần đi kèm kế hoạch thu hút doanh nghiệp, phát triển dịch vụ kho vận và kết nối với các tuyến vận tải hiện hữu.

Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa chính quyền địa phương, đơn vị khai thác cảng hàng không, hãng bay và doanh nghiệp logistics có ý nghĩa quan trọng. Việc thu hút hãng hàng không, mở mới đường bay và tăng tần suất khai thác không chỉ phục vụ hành khách mà còn cần được tính đến trong chiến lược phát triển vận tải hàng hóa.
Như ông Nguyễn Đức Hùng, Quyền Tổng Giám đốc ACV, cho biết, thông qua các cảng hàng không, ACV mong muốn tăng cường phối hợp với các địa phương, các hãng hàng không cùng nghiên cứu giải pháp hỗ trợ phù hợp, thu hút hãng bay, mở mới đường bay, tăng tần suất khai thác, nâng cao sản lượng hành khách và tiếp tục mở rộng biên độ tại các thị trường quốc tế tiềm năng.
Để tiến tới hình thành các đầu mối logistics, miền Trung cần giải quyết đồng thời ba vấn đề: năng lực vận chuyển hàng hóa, hạ tầng dịch vụ hậu cần và kết nối giao thông liên vùng. Nếu chỉ mở rộng công suất sân bay mà chưa hình thành được mạng lưới cung ứng và phân phối, hiệu quả kinh tế từ các dự án sẽ khó đạt như kỳ vọng.