Chính phủ vừa phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo (AI) đến năm 2030, định hướng đến năm 2035, với mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng AI cơ bản cho ít nhất 10 triệu lao động. Đồng thời, Việt Nam hướng tới hình thành đội ngũ 50.000 nhân lực có trình độ đại học trở lên, đủ khả năng ứng dụng AI trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm.

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ngày 11/08 ký Quyết định 1528/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo (AI) đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.
Chương trình hướng tới đưa năng lực sử dụng và ứng dụng AI trở thành một trong những kỹ năng thiết yếu đối với người học, người lao động và đội ngũ quản lý.
Bên cạnh việc phổ cập kiến thức AI trên diện rộng, chương trình đặt mục tiêu hình thành lực lượng nhân sự có khả năng nghiên cứu, phát triển và làm chủ các hệ thống AI, phục vụ những ngành công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ. Một trong những mục tiêu lớn nhất của chương trình là phổ cập kỹ năng AI cho lực lượng lao động.
Đến năm 2030, ít nhất 10 triệu người sẽ được đào tạo, bồi dưỡng hoặc cập nhật kiến thức, kỹ năng sử dụng AI cơ bản. Đối với khu vực công, ít nhất 90% cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ được bồi dưỡng kỹ năng AI.
Riêng ngành giáo dục và đào tạo đặt mục tiêu đạt tỷ lệ 100%. Trong đó, tối thiểu 100.000 giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục sẽ được đào tạo chuyên sâu để có khả năng hướng dẫn, hỗ trợ người học.
Đối với giáo dục phổ thông, chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 80% học sinh phổ thông và học sinh dự bị đại học được trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản về AI phù hợp với lứa tuổi.
Nội dung đào tạo được gắn với tư duy số, tư duy tính toán và việc sử dụng công nghệ an toàn, có trách nhiệm.
Ở bậc giáo dục đại học, 100% người học được đặt mục tiêu trang bị kiến thức và kỹ năng AI cơ bản. Với giáo dục nghề nghiệp, tỷ lệ này được đặt ở mức ít nhất 80%.
Bên cạnh phổ cập kỹ năng, chương trình dành mục tiêu riêng cho lực lượng nhân sự có trình độ chuyên môn cao.
Theo đó, Việt Nam dự kiến đào tạo mới, chuyển đổi và bồi dưỡng ít nhất 50.000 người có trình độ đại học trở lên, có khả năng ứng dụng AI trong các ngành và lĩnh vực trọng điểm.
Trong nhóm này và các chương trình đào tạo chuyên sâu khác, mục tiêu là hình thành ít nhất 10.000 nhân lực trình độ cao về AI. Lực lượng này bao gồm các nhà nghiên cứu, kỹ sư và chuyên gia có khả năng nghiên cứu, phát triển, triển khai, vận hành và quản trị các hệ thống AI tiên tiến.
Đáng chú ý, ít nhất 1.500 người được kỳ vọng có khả năng nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ lõi và dẫn dắt những nhiệm vụ AI trọng điểm. Chương trình quốc gia cũng đặt ra yêu cầu điều chỉnh hệ thống giáo dục theo hướng AI hiện diện ở tất cả cấp học và trình độ đào tạo.
Đến năm 2030, 100% cơ sở giáo dục đại học phải ban hành quy định về việc sử dụng AI trong đào tạo, nghiên cứu và đánh giá.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, ít nhất 80% chương trình đào tạo cấp văn bằng phải tích hợp chuẩn đầu ra và nội dung về năng lực ứng dụng AI phù hợp với từng ngành nghề.
Để hình thành chuẩn chung, Chính phủ yêu cầu xây dựng Khung năng lực AI quốc gia, cùng với các tiêu chuẩn đánh giá, chuẩn đầu ra và chương trình bồi dưỡng dành cho từng nhóm đối tượng.
Nội dung liên quan đến AI, tư duy tính toán, kỹ năng số và đạo đức sử dụng công nghệ cũng sẽ được rà soát để tích hợp phù hợp vào chương trình giáo dục phổ thông.
Theo chương trình, Việt Nam dự kiến hình thành ít nhất 10 trung tâm tiên tiến về AI. Trong số này, 5-7 trung tâm được định hướng đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và từng bước tiệm cận trình độ quốc tế.
Ít nhất 25 cơ sở giáo dục đại học sẽ trở thành đầu mối về đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Các cơ sở này sẽ triển khai cả chương trình đào tạo chuyên sâu về AI và những chương trình kết hợp AI với từng ngành, lĩnh vực.
Cùng với đó, một cơ sở dữ liệu về nhân lực AI sẽ được xây dựng nhằm theo dõi, đánh giá và dự báo cung - cầu về nhân lực và kỹ năng.
Chương trình cũng yêu cầu gắn hoạt động đào tạo với doanh nghiệp và thị trường lao động, đồng thời phát triển hạ tầng, dữ liệu và môi trường thực hành dùng chung phục vụ đào tạo AI.
Đối với lực lượng đang làm việc, chương trình đào tạo lại sẽ tập trung vào những lĩnh vực chịu tác động mạnh từ AI.

Nội dung đào tạo không chỉ bao gồm cách sử dụng công cụ AI mà còn mở rộng sang phân tích dữ liệu, tự động hóa quy trình, phối hợp giữa con người và máy móc, bảo vệ dữ liệu và khả năng thích ứng khi tính chất công việc thay đổi.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh và các tổ chức xã hội nghề nghiệp sẽ được hỗ trợ tiếp cận các chương trình bồi dưỡng, chuyên gia tư vấn và nguồn học liệu dùng chung.
Chương trình đồng thời ưu tiên người lao động có nguy cơ bị thay thế bởi tự động hóa, người học tại vùng khó khăn, phụ nữ trong lĩnh vực công nghệ, người khuyết tật và các nhóm cần được bảo đảm cơ hội tiếp cận.
Các chương trình và học liệu trực tuyến mở về AI sẽ được phát triển và phối hợp triển khai trên nền tảng Bình dân học vụ số cùng các nền tảng học tập số hiện có.
Đến năm 2035, Chính phủ định hướng năng lực sử dụng và ứng dụng AI trở thành kỹ năng phổ biến của lực lượng lao động.
Việt Nam đặt mục tiêu nằm trong nhóm quốc gia hàng đầu khu vực về phát triển nhân lực AI, đồng thời hình thành các trung tâm, chương trình đào tạo và nhóm nghiên cứu có khả năng phát triển công nghệ lõi.
Chương trình cũng hướng tới thu hút chuyên gia quốc tế và tăng cường sự tham gia của Việt Nam vào mạng lưới AI ở khu vực và quốc tế.
Chương trình quốc gia phát triển nhân lực AI đến năm 2030, định hướng đến năm 2035 đặt mục tiêu phổ cập kỹ năng AI trên quy mô lớn, với ít nhất 10 triệu lao động được đào tạo, bồi dưỡng hoặc cập nhật kiến thức cơ bản. Song song, Việt Nam hướng tới hình thành 50.000 nhân lực có khả năng ứng dụng AI trong các ngành trọng điểm, 10.000 nhân lực trình độ cao và ít nhất 1.500 người có khả năng làm chủ công nghệ lõi và dẫn dắt các nhiệm vụ AI trọng điểm.