Xuất khẩu nhân điều Việt Nam tiếp tục tăng trưởng, với nhu cầu từ Trung Quốc và nhiều thị trường quốc tế tạo thêm dư địa cho ngành. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, chi phí sản xuất cao và hạn chế về chế biến sâu đang đặt ra yêu cầu nâng cấp toàn bộ chuỗi giá trị của ngành.
Xuất khẩu tăng, ngành điều đối mặt nhiều thách thức
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), tính đến tháng 10/2026, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 600.000 tấn nhân điều, đạt kim ngạch hơn 4,2 tỷ USD. Trung Quốc và Mỹ là hai thị trường nhập khẩu lớn nhất, lần lượt chiếm 21,6% và 15,2% tổng lượng xuất khẩu theo thông tin được công bố.
Nhu cầu tại Trung Quốc tăng cùng giá xuất khẩu bình quân cải thiện so với cùng kỳ đang tạo thêm động lực cho ngành điều. Nếu hoạt động xuất khẩu tiếp tục thuận lợi trong quý IV, kim ngạch cả năm 2026 có thể đạt 5,5 tỷ USD, vượt mức kỷ lục 5,4 tỷ USD của năm 2025.

Ngày 27/10, tại TP.HCM, Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) phối hợp Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị Điều quốc tế Việt Nam lần thứ 15. Sự kiện thu hút hơn 500 đại biểu đến từ 40 quốc gia, vùng lãnh thổ cùng đại diện các hiệp hội, doanh nghiệp.
Việt Nam hiện giữ vị trí quốc gia chế biến và xuất khẩu nhân điều lớn nhất thế giới trong gần hai thập kỷ, chiếm trên 80% tổng lượng nhân điều xuất khẩu toàn cầu. Tại hội nghị, ông Ashok Krishen, Chủ tịch Hội đồng Hạt quả khô quốc tế (INC), thông tin thị trường hạt toàn cầu tăng trưởng bình quân 8% mỗi năm trong 10 năm qua, với nhu cầu tiêu thụ hạt quả khô khoảng 1,4 triệu tấn mỗi năm. Xu hướng quan tâm đến dinh dưỡng và thực phẩm tiện lợi cũng mở thêm cơ hội cho các sản phẩm từ hạt điều.
Dù vậy, tăng trưởng kim ngạch chưa đồng nghĩa lợi nhuận của doanh nghiệp được cải thiện tương ứng. Theo ông Phạm Văn Công, Chủ tịch Vinacas, biến động chính sách thuế quan, rào cản thương mại cùng chi phí sản xuất, vận tải, logistics và tài chính đang tạo sức ép lên toàn chuỗi cung ứng.
"Ngành điều là một chuỗi cung ứng và giá trị toàn cầu. Vì vậy phát triển bền vững cần sự phối hợp giữa các quốc gia, nhà cung cấp nguyên liệu, chế biến và phân phối. Các bên cần minh bạch thông tin thị trường, chia sẻ dữ liệu cung cầu, biến động giá", ông Công nhận định tại hội nghị.
Một điểm nghẽn lớn là nguồn nguyên liệu. Việt Nam hiện phải nhập khẩu khoảng 80% lượng điều thô phục vụ chế biến, trong khi diện tích trồng điều trong nước còn hạn chế. Nguồn cung chủ yếu đến từ châu Phi và Campuchia, nơi một số quốc gia đang đẩy mạnh chế biến nội địa hoặc hạn chế xuất khẩu điều thô để giữ lại giá trị gia tăng.
Phân tích sâu hơn với báo chí về tác động nguồn cung nguyên liệu nhập khẩu, ông Tạ Quang Huyên, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Hoàng Sơn I, khối lượng điều thô cần vận chuyển để tạo ra một đơn vị điều nhân cao hơn nhiều lần, khiến chi phí logistics trở thành bất lợi đáng kể. Chi phí sản xuất nhân điều tại Việt Nam hiện cao hơn khoảng 25–30% so với sản phẩm chế biến tại châu Phi. Điều này làm giảm dư địa cạnh tranh về giá, nhất là khi các nước cung cấp nguyên liệu từng bước mở rộng năng lực chế biến trong nước.
Đầu tư công nghệ, chế biến sâu để nâng giá trị hạt điều
Sau nhiều năm phát triển dựa trên năng lực chế biến điều nhân, ngành điều Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ cạnh tranh bằng sản lượng và giá bán sang nâng cao chất lượng, phát triển sản phẩm mới và gia tăng giá trị giữ lại trong nước.
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, việc chủ yếu xuất khẩu nhân điều khiến doanh nghiệp chưa khai thác hết giá trị thương mại của sản phẩm. Trong khi đó, những công đoạn như chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng có thể tạo ra giá trị gia tăng cao hơn.

Chia sẻ với TTXVN, ông Phùng Văn Sâm, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tập đoàn Hanfimex Việt Nam cho rằng ngành điều cần mở rộng các dòng sản phẩm như điều rang, điều tẩm gia vị, hạt hỗn hợp và nguyên liệu thực phẩm từ điều. Đây là hướng đi giúp doanh nghiệp tiếp cận đa dạng phân khúc khách hàng, đồng thời đáp ứng nhu cầu về thực phẩm dinh dưỡng, tiện lợi và thân thiện với môi trường.
Bên cạnh đầu tư máy móc, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) cũng cần được cải thiện. Theo các chuyên gia, đổi mới công nghệ phải gắn với nghiên cứu sản phẩm, hoàn thiện quy trình chế biến và kiểm soát chất lượng. Việc cơ giới hóa từ khâu thu hoạch đến chế biến có thể giúp nâng năng suất lao động, giảm chi phí và tăng tính đồng đều của nguyên liệu đầu vào.
Tuy nhiên, chế biến sâu đòi hỏi vốn đầu tư lớn và chiến lược thị trường phù hợp. Nhu cầu trong nước còn hạn chế nên doanh nghiệp khó chỉ dựa vào thị trường nội địa để tiêu thụ sản lượng tăng thêm. Để đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị và các kênh phân phối quốc tế, doanh nghiệp cần đáp ứng nghiêm ngặt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, nghiên cứu thị hiếu và xác định đúng nhóm khách hàng mục tiêu.
Cùng với công nghệ, việc phát triển thương hiệu, mở rộng thương mại điện tử và kết nối trực tiếp với khách hàng quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh. Liên kết giữa người trồng điều, nhà cung cấp nguyên liệu, cơ sở chế biến và doanh nghiệp xuất khẩu cũng có vai trò quan trọng trong bảo đảm nguồn cung, kiểm soát chi phí và phân chia lợi ích trong chuỗi giá trị.
Trong dài hạn, ngành điều Việt Nam cần kết hợp ba hướng đi: chủ động hơn về nguyên liệu, nâng cao năng lực chế biến sâu và mở rộng thị trường tiêu thụ. Đây là cơ sở để chuyển lợi thế về quy mô xuất khẩu thành giá trị kinh tế cao hơn, đồng thời củng cố khả năng cạnh tranh trước sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng điều toàn cầu.