Hiện có khoảng 789 công ty đại chúng xuất thân từ doanh nghiệp Nhà nước đang hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tuy nhiên, một số công ty vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các quy định để duy trì tư cách công ty đại chúng. Vấn đề tập trung chủ yếu ở tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng (free-float), quy mô vốn điều lệ và nghĩa vụ niêm yết, đăng ký giao dịch.
Số liệu từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước do BSC Research tổng hợp ghi nhận 67 doanh nghiệp chưa đạt điều kiện về cơ cấu cổ đông do tỷ lệ free-float thấp. Cùng với đó, 53 công ty chưa đáp ứng điều kiện về mức vốn điều lệ tối thiểu và 41 đơn vị chưa thực hiện niêm yết hoặc đăng ký giao dịch chính thức.
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tỷ lệ free-float thấp là việc Nhà nước hoặc các cổ đông lớn tiếp tục nắm giữ tỷ lệ cổ phần cao. Dữ liệu BSC cập nhật đến ngày 31/12/2025 cho thấy nhiều doanh nghiệp quy mô lớn vẫn có tỷ lệ sở hữu Nhà nước trên 70%, thậm chí trên 90%.

Tại Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV), Nhà nước nắm giữ 95,4% vốn trên tổng quy mô vốn hóa khoảng 175.935 tỷ đồng. Tương tự, Tổng công ty Khí Việt Nam (GAS) có vốn hóa 174.698 tỷ đồng với tỷ lệ sở hữu Nhà nước đạt 95,8%. Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (GVR) có quy mô vốn hóa 104.800 tỷ đồng và tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước là 96,8%. Ở các doanh nghiệp khác, tỷ lệ sở hữu Nhà nước tại Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) là 92,1%, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (MVN) là 99,5% và Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Quốc tế Viettel (Viettel Global) lên tới 99%. Trong nhóm ngân hàng, Nhà nước nắm giữ 74,8% vốn tại Vietcombank và 79,6% tại BIDV.
Tỷ lệ nắm giữ cao giúp Nhà nước duy trì quyền chi phối tại các ngành then chốt, nhưng lại khiến lượng cổ phiếu thực tế có thể giao dịch tự do trên thị trường bị hạn chế. Để giải quyết vấn đề này, BSC dẫn thông tin từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đưa ra hai nhóm phương án xử lý chính.
Nhóm giải pháp thứ nhất đến từ phía cổ đông lớn. Cổ đông Nhà nước hoặc cổ đông nắm giữ cổ phần chi phối có thể bán bớt phần vốn sở hữu thông qua hình thức đấu giá công khai hoặc giao dịch trực tiếp trên sàn chứng khoán.
Nhóm giải pháp thứ hai đến từ phía doanh nghiệp. Các công ty có thể phát hành thêm cổ phiếu ra công chúng, chào bán cho cổ đông hiện hữu, nhà đầu tư mới hoặc triển khai chương trình cổ phiếu thưởng cho người lao động (ESOP). Phương án này vừa hỗ trợ doanh nghiệp tăng vốn chủ sở hữu để đáp ứng các điều kiện pháp lý, vừa làm pha loãng tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn và gia tăng lượng cổ phiếu trôi nổi ngoài thị trường.
Việc tăng tỷ lệ free-float gắn liền với tiến trình thoái vốn Nhà nước. Danh sách các doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu Nhà nước cao cần tiếp tục xử lý gồm có ACV, GAS, GVR, BSR, MVN, PLX, BVH, POW, PGV, KSV, OIL, PHP cùng nhiều đơn vị khác.
Các đợt thoái vốn lớn trong quá khứ từng cung cấp lượng hàng đáng kể cho thị trường chứng khoán. Thương vụ lớn nhất được ghi nhận là Bộ Công Thương thoái vốn tại Sabeco vào tháng 12/2017 với giá trị 109.972 tỷ đồng, chiếm khoảng 47% tổng giá trị thoái vốn từ năm 2005 đến nay. Sau giai đoạn trầm lắng, hoạt động đấu giá thoái vốn đã ghi nhận sự gia tăng trở lại từ năm 2025 với 24 đợt thành công, cao hơn so với 5 đợt của năm 2024.
Bên cạnh đó, Quyết định 40/2026 ban hành ngày 5/8/2026 về tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn Nhà nước giai đoạn 2026–2030 tiếp tục đề ra khung định hướng nắm giữ vốn theo từng nhóm lĩnh vực. Việc triển khai các hoạt động thoái vốn, tăng tỷ lệ free-float và hoàn thiện tư cách công ty đại chúng theo đúng lộ trình sẽ góp phần gia tăng nguồn cung, cải thiện thanh khoản và hoàn thiện cấu trúc vận hành của thị trường chứng khoán.