Sau nửa đầu năm 2026, bức tranh kinh doanh của nhóm doanh nghiệp FDI trên thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục phân hóa mạnh. Trong khi số ít doanh nghiệp ghi nhận kết quả tích cực, số còn lại vẫn chật vật với biên lợi nhuận thấp, thậm chí thua lỗ.
Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, số doanh nghiệp có nguồn gốc hoặc vốn đầu tư nước ngoài hiện diện khá khiêm tốn so với quy mô của khu vực FDI trong nền kinh tế. Sau khi Gạch men Chang Yih (CYC) chính thức bị hủy đăng ký giao dịch trên UPCoM từ cuối tháng 7/2026, danh sách doanh nghiệp FDI trên sàn chứng khoán Việt Nam hiện tại còn 9 cái tên: 6 trên HOSE, 1 trên HNX và 2 trên UPCoM.
Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy sự phân hóa rõ nét. Có doanh nghiệp tăng trưởng lợi nhuận mạnh dù doanh thu không tăng tương ứng, trong khi một số doanh nghiệp vẫn chưa thoát khỏi tình trạng kinh doanh kém hiệu quả.

Tăng trưởng nổi bật ở Taya, Interfood và Siam Brothers
Trong nhóm này, Taya Việt Nam (HOSE: TYA) là một trong những doanh nghiệp có kết quả nổi bật nhất trong nửa đầu năm.
Doanh nghiệp sản xuất dây và cáp điện này ghi nhận doanh thu thuần 6 tháng đạt khoảng 1.324,9 tỷ đồng, tăng 19,7%. Lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 61,8 tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ. Riêng quý II, doanh thu tăng gần 22% nhưng lợi nhuận sau thuế giảm 4,1% do giá vốn và các chi phí hoạt động tăng.
Taya Việt Nam có nguồn gốc là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài của Taya Đài Loan và bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ giữa những năm 1990. Cổ phiếu TYA được đưa vào giao dịch trên thị trường chứng khoán từ năm 2006.
Một điểm đáng chú ý là dù lợi nhuận tăng mạnh, Taya cũng đang sử dụng đòn bẩy tài chính tương đối lớn. Tại ngày 30/6/2026, dư nợ vay của doanh nghiệp đạt khoảng 989,1 tỷ đồng, tăng 15,4% so với đầu năm. Chi phí đi vay trong quý II cũng tăng mạnh so với cùng kỳ, tạo thêm áp lực lên lợi nhuận của doanh nghiệp.
Một trường hợp khác có mức tăng trưởng đáng chú ý là Thực phẩm Quốc tế - Interfood (UPCoM: IFS), doanh nghiệp đứng sau các thương hiệu Wonderfarm, trà Bí Đao và một số sản phẩm đồ uống khác.
Trong quý II/2026, IFS đạt 62,6 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế thuộc về công ty mẹ, tăng 61,3% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng, lợi nhuận đạt 115,45 tỷ đồng, tăng 34,08%. Doanh thu thuần 6 tháng đạt 1.082,87 tỷ đồng.
Kết quả này cho thấy hiệu quả kinh doanh của IFS cải thiện khá rõ trong quý II. Doanh thu thuần tăng 18,97%, trong khi giá vốn chỉ tăng 12,53%, giúp lợi nhuận gộp tăng 32,66%. Chi phí quản lý doanh nghiệp giảm 12,54%, dù chi phí bán hàng tăng 23,47%, qua đó lợi nhuận sau thuế công ty mẹ vẫn tăng hơn 61% so với cùng kỳ.
Siam Brothers Việt Nam (HOSE: SBV) đã có dấu hiệu cải thiện rõ rệt trong quý II, dù lợi nhuận 6 tháng vẫn chưa trở lại mức dương. Sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu thuần đạt 293,2 tỷ đồng, tăng khoảng 23,4% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ lỗ khoảng 0,5 tỷ đồng, cải thiện mạnh so với khoản lỗ 25,6 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Riêng quý II, doanh thu đạt 158,2 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận sau thuế đạt 1,8 tỷ đồng, so với mức lỗ hơn 13 tỷ đồng cùng kỳ.
Kết quả quý II cho thấy hoạt động kinh doanh của SBV đã có sự phục hồi nhất định. Doanh nghiệp chuyên sản xuất dây PP, dây thừng và các sản phẩm phục vụ nông nghiệp, thủy sản này đã chuyển từ trạng thái thua lỗ trong quý I sang có lãi trong quý II. Tuy nhiên, mức lợi nhuận hiện tại vẫn khá thấp so với quy mô doanh thu, cho thấy áp lực về giá vốn và chi phí vẫn chưa được giải quyết hoàn toàn.
SBV từng trải qua giai đoạn kinh doanh khó khăn. Năm 2025, doanh nghiệp đặt mục tiêu doanh thu 820 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 44,6 tỷ đồng. Đây là kế hoạch được xây dựng sau khi doanh nghiệp ghi nhận kết quả không thuận lợi trong năm trước.
SBV là doanh nghiệp 100% vốn của Siam Brothers Group, Thái Lan, tham gia thị trường Việt Nam từ năm 1995. Công ty từng nằm trong nhóm doanh nghiệp thua lỗ nặng vào năm 2000 trước khi quay lại có lãi từ năm 2002 và niêm yết trên HOSE từ năm 2017.
Nhiều doanh nghiệp còn nhiều chật vật
Ở chiều ngược lại, Taicera (HOSE: TCR) tiếp tục nằm trong nhóm kinh doanh khó khăn. Sáu tháng đầu năm, doanh thu thuần của Taicera đạt khoảng 421,8 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ lỗ 26 tỷ đồng, tăng mức lỗ khoảng 38,2% so với cùng kỳ. Riêng quý II, công ty mẹ lỗ khoảng 5,5 tỷ đồng.
Đáng chú ý, kết quả quý II đã có một số tín hiệu cải thiện ở cấp độ hoạt động. Doanh thu thuần tăng 3%, trong khi giá vốn giảm 3,8%, giúp lợi nhuận gộp tăng 86,5%. Tuy nhiên, mức cải thiện này chưa đủ để đưa TCR trở lại có lãi. Tại cuối tháng 6, dư nợ vay của doanh nghiệp ở mức 349,7 tỷ đồng, tăng 9,3% so với đầu năm; riêng chi phí lãi vay quý II vẫn tăng 14,5% so với cùng kỳ.
Tung Kuang (HNX: TKU) cũng ghi nhận kết quả không mấy tích cực. Sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu thuần đạt 285,2 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 13,7 tỷ đồng, giảm 47,4% so với cùng kỳ. Riêng quý II, doanh thu thuần đạt khoảng 145,2 tỷ đồng, giảm 13,5%, còn lợi nhuận sau thuế công ty mẹ đạt 5,5 tỷ đồng, giảm 42,8%.
Áp lực lên kết quả kinh doanh của TKU thể hiện rõ ở biên lợi nhuận. Trong quý II, doanh thu giảm 13,5% trong khi lợi nhuận gộp giảm tới 33,1%. Cùng lúc, chi phí bán hàng tăng 36,2% và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 20,7%, khiến lợi nhuận sau thuế tiếp tục suy giảm. Dư nợ vay cuối tháng 6 ở mức 276,9 tỷ đồng, tăng 13,4% so với đầu năm, dù chi phí tài chính trong quý II đã giảm 36,1% so với cùng kỳ.
Mirae (HOSE: KMR) có quy mô nhỏ hơn nhưng lợi nhuận đã có sự cải thiện so với cùng kỳ. Theo báo cáo tài chính quý II, doanh thu quý II đạt khoảng 93,3 tỷ đồng, cao hơn quý I nhưng giảm 8,9% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 1,7 tỷ đồng, tăng mạnh so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng, doanh thu đạt khoảng 177,6 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 1,9 tỷ đồng, tăng hơn 34% so với cùng kỳ.
Điểm đáng chú ý ở KMR là dù lợi nhuận cải thiện, biên lợi nhuận vẫn khá mỏng. Với doanh thu quý II hơn 93 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế công ty mẹ chỉ đạt 1,7 tỷ đồng. Điều này cho thấy quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp vẫn tương đối nhỏ so với doanh thu, dù kết quả đã tích cực hơn cùng kỳ.
Trong khi đó, Everpia (HOSE: EVE) có quy mô doanh thu lớn hơn trong nhóm dệt may. Sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu thuần đạt 343,3 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 11,5 tỷ đồng.
Riêng quý II, doanh thu đạt 191,6 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 10,7 tỷ đồng. So với kế hoạch năm 2026 là 950 tỷ đồng doanh thu và 50 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, EVE đã thực hiện khoảng 36% mục tiêu doanh thu và 23% mục tiêu lợi nhuận.
Kết quả của EVE cũng cho thấy biên lợi nhuận vẫn khá mỏng. Sáu tháng đầu năm, lợi nhuận gộp đạt 126,1 tỷ đồng trên doanh thu thuần 343,3 tỷ đồng. Riêng quý II, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh đạt 16,4 tỷ đồng, trước khi công ty ghi nhận lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ 10,7 tỷ đồng.
Đáng chú ý, hoạt động tài chính không phải yếu tố gây sức ép lên lợi nhuận trong quý II, khi doanh thu tài chính đạt 13,8 tỷ đồng, cao hơn đáng kể chi phí tài chính 3,5 tỷ đồng.
RIC quay lại thua lỗ, CYC rời thị trường
Quốc tế Hoàng Gia (UPCoM: RIC) là trường hợp đáng chú ý nhất ở nhóm dịch vụ.
Doanh nghiệp vận hành Casino Royal Hạ Long ghi nhận doanh thu thuần 6 tháng đầu năm khoảng 76,9 tỷ đồng, gần như đi ngang so với cùng kỳ. Tuy nhiên, sau khoản lỗ hơn 9 tỷ đồng trong quý II, RIC kết thúc nửa đầu năm với khoản lỗ khoảng 1,7 tỷ đồng.
Doanh nghiệp cho biết hoạt động kinh doanh casino chịu ảnh hưởng bởi World Cup 2026, lượng khách quốc tế giảm và việc một số khách VIP thắng cược liên tiếp. Ngoài ra, giá thuê đất tại Hạ Long tăng khoảng 57% từ năm 2026 cũng tạo thêm sức ép lên chi phí.
Kết quả này đặc biệt đáng chú ý bởi RIC vừa trải qua năm 2025 có lãi trở lại sau chuỗi 6 năm thua lỗ. Năm 2025, doanh thu đạt 157,1 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế hơn 7,3 tỷ đồng.
Trong khi đó, Với Gạch men Chang Yih (CYC), câu chuyện thậm chí đã chuyển từ kết quả kinh doanh sang sự tồn tại trên thị trường chứng khoán. Trước khi rời thị trường, CYC vẫn kinh doanh kém tích cực. Doanh nghiệp từng trải qua nhiều năm khó khăn, thua lỗ và phải tái cơ cấu hoạt động. Đến năm 2026, CYC tiếp tục thu hẹp hiện diện trên thị trường vốn khi HNX hủy đăng ký giao dịch gần 2 triệu cổ phiếu từ ngày 31/7, với phiên giao dịch cuối cùng vào 30/7.

SBT là trường hợp đặc biệt
Thành Thành Công - Biên Hòa, TTC AgriS (HOSE: SBT) là một trường hợp đặc biệt. Có xuất thân là DN có vốn đầu tư nước ngoài nhưng qua quá trình chuyển đổi cơ cấu DN hiện có thành phần cổ đông đa dạng bao gồm đa số cổ đông trong nước và có cổ đông lớn nước ngoài. Dù vậy, hiện trong nhiều danh sách thống kê SBT vẫn được xếp là nhóm FDI dù cơ cấu cổ đông đã thể hiện là DN do nhà đầu tư nội nắm chi phối. VietnamFinance cập nhật dữ liệu SBT để có thêm sự so sánh.
So với các DN trên, SBT có quy mô vượt trội so với phần lớn các thành viên còn lại trong nhóm. Hơn nưa, SBT cần được tách riêng khi so sánh vì doanh nghiệp sử dụng niên độ tài chính từ tháng 7 đến tháng 6 năm sau.
Vì vậy, số liệu 6 tháng được công bố trong năm 2026 là 6 tháng đầu niên độ 2025 - 2026, thay vì giai đoạn tháng 1 - 6/2026. Trong 6 tháng đầu niên độ 2025-2026, doanh thu thuần đạt 14.786,5 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 475,8 tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ. Riêng quý II, lợi nhuận sau thuế công ty mẹ đạt 229,4 tỷ đồng, tăng 42,8%, dù doanh thu giảm 4,1%. Việc giá vốn giảm 9,5% giúp lợi nhuận gộp tăng tới 55,6%, bù đắp phần nào áp lực từ chi phí bán hàng, quản lý và tài chính
Một điểm đáng chú ý khác ở SBT là quy mô lợi nhuận cải thiện trong khi doanh nghiệp đồng thời giảm dư nợ vay. Tại ngày cuối tháng 6, tổng dư nợ vay của TTC AgriS còn khoảng 16.864 tỷ đồng, giảm 8,75% so với đầu niên độ. Tuy nhiên, chi phí tài chính trong quý II vẫn tăng hơn 50% so với cùng kỳ, cho thấy áp lực chi phí vốn vẫn khá lớn dù doanh nghiệp đã chủ động thu hẹp đòn bẩy.
Đây cũng là điểm khiến SBT khác biệt đáng kể so với nhiều doanh nghiệp FDI quy mô nhỏ trong nhóm: doanh thu và lợi nhuận ở quy mô hàng chục nghìn tỷ đồng, nhưng hiệu quả kinh doanh vẫn chịu ảnh hưởng lớn từ cấu trúc tài chính và chi phí vốn.