Dự thảo Nghị định về kinh doanh xăng dầu lần thứ 14 đề xuất trao quyền cho thương nhân đầu mối và thương nhân phân phối độc lập tự quyết giá bán buôn, bán lẻ theo pháp luật về giá và cơ chế thị trường.

Theo dự thảo, cơ cấu giá xăng dầu gồm giá mua, chi phí tạo nguồn, chi phí kinh doanh định mức, lợi nhuận và các loại thuế.
Giá mua và chi phí tạo nguồn do doanh nghiệp tự xác định theo thực tế kinh doanh. Chi phí kinh doanh định mức ban đầu áp dụng theo mức Bộ Công Thương công bố, sau đó điều chỉnh hàng năm theo CPI và rà soát định kỳ 3 năm một lần.
Đáng chú ý, phần lợi nhuận cũng do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu tự xác định theo thực tế hoạt động.
Tại hội nghị lấy ý kiến về dự thảo Nghị định mới, ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), cho rằng cơ chế này có thể tạo điều kiện để doanh nghiệp có chi phí thấp, tổ chức nguồn hàng hiệu quả và vận hành tốt chủ động giảm giá để thu hút khách hàng.
Theo đó, các cửa hàng có thể niêm yết mức giá khác nhau, qua đó tạo thêm cạnh tranh và giúp người tiêu dùng có thêm lựa chọn.
Một số doanh nghiệp và chuyên gia nhận định cơ chế mới có thể giúp giá xăng dầu phản ứng nhanh hơn với diễn biến thị trường, đồng thời hạn chế tình trạng tăng giá dồn vào một kỳ điều chỉnh.
PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng về mặt kinh tế, tự quyết giá có thể tạo ra cạnh tranh thực chất nếu thị trường đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết.
Hiện nay, người tiêu dùng thường chứng kiến nhiều cửa hàng điều chỉnh giá gần như cùng thời điểm và có mức giá tương đồng. Trong môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp có chi phí thấp, quản trị hiệu quả và nguồn hàng tốt có thể sử dụng giá hoặc chất lượng dịch vụ để thu hút khách hàng.
Quyền định giá tập trung vào nhóm đầu mối?
Bên cạnh kỳ vọng về cạnh tranh, dự thảo cũng đặt ra vấn đề về mức độ tập trung thị trường. Theo các điều kiện được nêu, nếu nghị định có hiệu lực và áp dụng ngay, thị trường có thể chỉ còn 14-15 thương nhân đầu mối.
Ông Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Công ty TNHH Xăng dầu Hải Âu Phát, cho rằng dự thảo chưa làm rõ cách phân bổ chi phí kinh doanh định mức và lợi nhuận giữa thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối và doanh nghiệp bán lẻ.

Theo ông Thắng, việc cho phép thương nhân đầu mối tự xác định lợi nhuận có thể ảnh hưởng đến phần chiết khấu dành cho các cửa hàng bán lẻ. Nếu khoản này bị kéo xuống quá thấp, thậm chí 0 đồng, thương nhân phân phối có thể gặp khó khăn trong việc bù đắp chi phí vận chuyển, nhân công và duy trì hoạt động.
Do đó, ông đề xuất nếu vẫn duy trì phần lợi nhuận trong công thức giá, dự thảo nên quy định đây là mức do từng thương nhân kinh doanh xăng dầu xác định, thay vì giao toàn quyền cho doanh nghiệp đầu mối.
PGS.TS Ngô Trí Long cũng lưu ý rằng trao quyền định giá không đồng nghĩa thị trường tự động hình thành cạnh tranh.
Trong trường hợp nguồn cung tập trung vào các doanh nghiệp lớn và thương nhân nhỏ phụ thuộc vào một số đầu mối, việc tự do định giá có thể khiến quyền quyết định giá chuyển từ cơ chế quản lý Nhà nước sang một nhóm doanh nghiệp lớn. Khi đó, mức độ cạnh tranh thực tế vẫn phụ thuộc vào cấu trúc thị trường.
Để hạn chế nguy cơ này, các chuyên gia đề xuất tăng minh bạch giá bán tại từng cửa hàng và trên nền tảng số, đồng thời tăng cường giám sát các hành vi thỏa thuận giá, phân chia thị trường, áp đặt điều kiện thương mại bất hợp lý hoặc lạm dụng vị trí thống lĩnh.
Thương nhân phân phối và doanh nghiệp bán lẻ cũng cần có nhiều lựa chọn nguồn cung thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào một đầu mối.
Số hóa dữ liệu để giám sát thị trường
Một giải pháp được đề cập là xây dựng cơ sở dữ liệu giá xăng dầu quốc gia. Với số lượng điểm bán lớn, việc chỉ dựa vào kiểm tra từng báo cáo kê khai sẽ khó theo dõi đầy đủ diễn biến giá.
Việc ứng dụng dữ liệu lớn có thể hỗ trợ cơ quan quản lý phát hiện những trường hợp tăng giá bất thường, đồng thời tạo điều kiện để người tiêu dùng so sánh giá giữa các điểm bán.
GS.TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng xăng dầu là mặt hàng có giá biến động nhanh và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thị trường thế giới. Nếu vận hành theo cơ chế thị trường, giá trong nước cũng sẽ phản ánh những biến động này.
Theo ông, Nhà nước vẫn cần duy trì vai trò nhất định trong bình ổn giá và ứng phó các cú sốc năng lượng, nhưng có thể chuyển dần từ can thiệp trực tiếp sang sử dụng các công cụ thị trường.
Ông cũng đề xuất số hóa và công khai dữ liệu về giá nhập khẩu, giá bán, hóa đơn đầu vào, đầu ra và lượng dự trữ để thuận tiện kiểm tra, đối chiếu.
Một nền tảng công bố thông tin về giá, nguồn cung và lượng dự trữ cũng có thể được nghiên cứu nhằm giúp người tiêu dùng theo dõi diễn biến thị trường.
Khi dữ liệu được công khai và minh bạch hơn, cơ quan quản lý có thêm công cụ giám sát, còn người tiêu dùng có thêm thông tin để so sánh trước khi lựa chọn nơi mua xăng dầu.