Số doanh nghiệp Nhật Bản hoạt động tại Trung Quốc đã giảm hơn 20% chỉ trong vòng 2 năm, xuống mức thấp nhất kể từ khi có thống kê, cho thấy hoạt động kinh doanh đang chuyển từ mở rộng sang tái cơ cấu, xu hướng thu hẹp và rút đi ngày càng rõ nét.

Theo báo cáo mới nhất của Teikoku Databank – công ty điều tra tư liệu của Nhật công bố ngày 28/9, tính đến tháng 6/2026, tại Trung Quốc có 10.118 doanh nghiệp Nhật Bản, giảm 2.916 doanh nghiệp, tương đương 22,4%, so với con số 13.034 doanh nghiệp trong cuộc khảo sát năm 2024.
Số doanh nghiệp Nhật tại Trung Quốc từng đạt mức cao nhất lịch sử vào năm 2012, với 14.394 đơn vị. So với mức này, con số hiện nay đã giảm 4.276 doanh nghiệp, tương đương 29,7%.
Đây cũng là mức thấp nhất kể từ khi Teikoku Databank bắt đầu thống kê vào năm 2010.
Số doanh nghiệp mới vào Trung Quốc xuống mức thấp kỷ lục
Không chỉ số lượng doanh nghiệp Nhật đang hoạt động tại Trung Quốc giảm mạnh, dòng doanh nghiệp mới gia nhập thị trường này cũng suy giảm đáng kể.
Theo báo cáo của Teikoku Databank, số doanh nghiệp Nhật mới thành lập hoặc mở cơ sở tại Trung Quốc, bao gồm pháp nhân địa phương, nhà máy và văn phòng đại diện, chỉ có 1.221 đơn vị/2 năm. Con số này thấp hơn đáng kể so với mức 1.352 doanh nghiệp/năm trong giai đoạn 2020-2022, đồng thời là mức thấp nhất trong lịch sử thống kê.
Đáng chú ý, giai đoạn 2020-2022 là thời điểm đại dịch COVID-19 bùng phát, buộc nhiều doanh nghiệp Nhật phải đẩy nhanh việc đánh giá lại hoạt động tại Trung Quốc.
Ở chiều ngược lại, số doanh nghiệp Nhật đóng cửa cơ sở, rút khỏi Trung Quốc hoặc không còn xác định được tình trạng hoạt động đã lên tới 4.137, mức cao nhất từng được ghi nhận.
Kết quả là chỉ trong 2 năm, số doanh nghiệp Nhật hiện diện tại Trung Quốc đã giảm ròng 2.916 đơn vị.
Những rủi ro ngày càng khiến doanh nghiệp Nhật phải tính lại
Teikoku Databank cho rằng quan hệ Nhật-Trung xấu đi là nhân tố hàng đầu. Điểm khởi đầu cho đợt xấu đi mới trong quan hệ Nhật - Trung được cho là ngày 7/11/2025, Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi khi trả lời chất vấn tại Hạ viện đã nói rằng, nếu Trung Quốc dùng tàu chiến phong tỏa Đài Loan và sử dụng vũ lực, tình huống này có thể cấu thành “tình trạng đe dọa sự tồn vong của Nhật Bản”.
Đây là khái niệm pháp lý của Nhật Bản, chỉ tình huống dù lãnh thổ Nhật không trực tiếp bị tấn công, Tokyo vẫn có thể thực hiện quyền phòng vệ tập thể và sử dụng vũ lực trong những điều kiện nhất định.

Sau phát biểu này, Trung Quốc lập tức khuyến cáo người dân hạn chế đi Nhật, đồng thời đình chỉ nhập khẩu thủy sản Nhật Bản và tạm dừng một số hoạt động giao lưu học thuật, văn hóa.
Teikoku Databank nhận định những thay đổi chính sách đột ngột của Trung Quốc và các biện pháp gây sức ép kinh tế phát sinh sau phát biểu trên đã trở thành một yếu tố khiến doanh nghiệp Nhật lo ngại.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Nhật còn phải đối mặt với hàng loạt rủi ro tại Trung Quốc; trong đó có sự đình trệ của kinh tế Trung Quốc do thị trường bất động sản suy yếu, các biện pháp hạn chế xuất khẩu đất hiếm và những vấn đề được báo cáo gọi là các hành động gây sức ép kinh tế.
Ngoài ra còn có việc Trung Quốc sửa đổi Luật Chống gián điệp, tình trạng dư thừa công suất, cũng như áp lực cạnh tranh giá ngày càng lớn từ các doanh nghiệp Trung Quốc được chính phủ trợ cấp.
Những yếu tố này đang khiến “rủi ro quốc gia” trở thành một biến số ngày càng quan trọng trong quyết định đầu tư của doanh nghiệp Nhật.
Từ “công xưởng giá rẻ” sang tái cấu trúc chuỗi cung ứng
Trong nhiều thập niên, Trung Quốc trở thành “công xưởng của thế giới” nhờ lợi thế chi phí lao động thấp. Trong bối cảnh những rủi ro khó dự đoán tại Trung Quốc gia tăng, các doanh nghiệp Nhật được cho là đang đánh giá lại thị trường này tùy theo quy mô và lĩnh vực kinh doanh.
Một xu hướng ngày càng rõ là chuyển hoặc phân tán cơ sở sản xuất sang Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Điều này đi cùng với quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng, khi vai trò của Trung Quốc với tư cách “cứ điểm sản xuất chi phí thấp” của thế giới không còn quan trọng như trước.
Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chi phí và rủi ro ngày càng tăng có thể trở thành động lực khiến họ thu hẹp hoạt động hoặc rút khỏi Trung Quốc. Nhóm chịu tác động rõ nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng các ngành sử dụng nhiều lao động.
Trong hai năm, số doanh nghiệp Nhật thuộc lĩnh vực sản xuất tại Trung Quốc giảm 933 doanh nghiệp. Các ngành bán buôn và dịch vụ cũng thu hẹp. Trong đó, những ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, xuất bản - in ấn và sản xuất đồ nội thất ghi nhận mức suy giảm rõ rệt nhất.
Thượng Hải giảm hơn 1.000 doanh nghiệp, Bắc Kinh mất một nửa so với năm 2022
Thượng Hải vẫn là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp Nhật nhất tại Trung Quốc. Tuy nhiên, chỉ trong hai năm qua, số doanh nghiệp Nhật tại đây đã giảm 1.085, tương đương khoảng 20%. So với năm 2022, mức giảm lên tới khoảng 30%.

Tại Bắc Kinh, hiện chỉ còn khoảng 555 doanh nghiệp Nhật, giảm khoảng một nửa so với năm 2022. Teikoku Databank cho biết Bắc Kinh tập trung nhiều doanh nghiệp Nhật hoạt động trong các lĩnh vực tài chính, tư vấn, CNTT và quản lý khu vực. Những năm gần đây, chi phí và gánh nặng tuân thủ pháp luật gia tăng, trong khi các doanh nghiệp cũng tái cơ cấu chức năng của những trụ sở khu vực, khiến số cơ sở tiếp tục giảm.
Đáng chú ý, ngay cả các khu vực nội địa Trung Quốc từng được kỳ vọng sẽ tiếp nhận hoạt động sản xuất chuyển dịch từ vùng duyên hải cũng không ghi nhận sự gia tăng.
Số doanh nghiệp Nhật tại Thiểm Tây, Trùng Khánh và Tứ Xuyên đều giảm. Điều này cho thấy xu hướng chuyển hoạt động sản xuất từ vùng duyên hải vào nội địa Trung Quốc chưa thực sự hình thành rõ nét.
Doanh nghiệp Trung Quốc trở thành đối thủ lớn nhất của doanh nghiệp Nhật
Khảo sát năm tài khóa 2025 của Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) cho thấy 74,5% doanh nghiệp Nhật tại Trung Quốc coi doanh nghiệp Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh lớn nhất. Trong khi đó, chỉ 13,5% lựa chọn doanh nghiệp Nhật khác là đối thủ chính.
Riêng lĩnh vực sản xuất, tỷ lệ doanh nghiệp coi công ty Trung Quốc là đối thủ chính vượt 80%. Trong ngành linh kiện điện tử, tỷ lệ này thậm chí vượt 90%; với linh kiện ô tô và các thiết bị vận tải khác, con số cũng xấp xỉ 90%.
Tuy nhiên, khảo sát cũng cho thấy hoạt động kinh doanh tại Trung Quốc chưa phải đang đồng loạt suy giảm. Có 63,2% doanh nghiệp Nhật tại Trung Quốc dự báo có lãi, tăng so với mức 58,4% của năm trước.
64,3% doanh nghiệp cho biết sẽ duy trì quy mô hoạt động hiện tại tại Trung Quốc. Những doanh nghiệp dự định thu hẹp, chuyển hoạt động sang nước thứ ba hoặc rút khỏi Trung Quốc cộng lại chiếm 14,4%.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa Trung Quốc đã mất vai trò đối với doanh nghiệp Nhật. Với thị trường tiêu dùng khổng lồ và hệ thống chuỗi cung ứng hoàn chỉnh, Trung Quốc vẫn là một cơ sở kinh doanh quan trọng đối với nhiều công ty Nhật Bản.
Nhưng trong những năm gần đây, sự kết hợp của cạnh tranh Mỹ-Trung, rủi ro địa chính trị, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chậm lại, chi phí nhân công tăng và sự vươn lên mạnh mẽ của doanh nghiệp Trung Quốc đang thúc đẩy ngày càng nhiều doanh nghiệp Nhật xem xét lại mức độ phụ thuộc vào thị trường này.
Nói cách khác, xu hướng hiện nay không nhất thiết là một cuộc “rút chạy khỏi Trung Quốc” trên diện rộng của các doanh nghiệp Trung Quốc, mà đang thể hiện rõ hơn dưới dạng giảm phụ thuộc, phân tán sản xuất và tái cấu trúc hoạt động kinh doanh.