Giá sầu riêng hôm nay 21/10 ghi nhận sự chênh lệch đáng kể giữa các giống và khu vực thu mua. Sầu Thái loại A tại Đắk Lắk đạt 95.000 đồng/kg, trong khi Black Thorn và Musang King tiếp tục thuộc nhóm có giá cao trên thị trường.
Sầu Thái dẫn đầu giá thu mua tại nhiều vùng trồng
Theo khảo sát, giá sầu riêng tại các vùng trồng có sự khác biệt tùy giống, chất lượng và địa điểm thu mua. Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận mức giá cao ở cả sầu Thái và Ri6, trong khi Đắk Lắk tiếp tục có những lô sầu Thái loại A được thu mua với giá cao.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, sầu Thái loại A dao động từ 86.000–88.000 đồng/kg, loại B ở mức 66.000–68.000 đồng/kg và loại C khoảng 46.000 đồng/kg. Đối với hàng dạt, giá thu mua phổ biến từ 30.000–35.000 đồng/kg.
Sầu riêng Ri6 loại A được giao dịch trong khoảng 73.000–80.000 đồng/kg. Loại B có giá 63.000–65.000 đồng/kg, còn loại C dao động từ 30.000–33.000 đồng/kg.
Ở phân khúc cao cấp, Black Thorn loại A được thu mua từ 150.000–155.000 đồng/kg, loại B ở mức 135.000–140.000 đồng/kg. Musang King loại A dao động từ 145.000–155.000 đồng/kg, trong khi loại B có giá 125.000–135.000 đồng/kg. Sầu riêng Chuồng Bò loại A được giao dịch ở mức 65.000–70.000 đồng/kg, loại B từ 50.000–55.000 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk, sầu Thái loại A có giá 84.000–90.000 đồng/kg, loại B dao động từ 64.000–70.000 đồng/kg, loại C có giá 45.000 – 50.000 đồng/kg. Hàng lỗi được thu mua khoảng 69.000 đồng/kg, hàng dạt ở mức 28.000–32.000 đồng/kg và hàng kem từ 13.000–15.000 đồng/kg. Với Ri6, loại A có giá khoảng 35.000 đồng/kg, loại B ở mức 25.000 đồng/kg.

Tại Gia Lai, sầu Thái loại A được thu mua ở mức 88.000 đồng/kg, loại B đạt 75.000 đồng/kg. Hàng lỗi dao động từ 80.000–82.000 đồng/kg. Ri6 loại A có giá khoảng 35.000 đồng/kg, loại B ở mức 20.000 đồng/kg.
Tại Đông Nam Bộ, sầu Thái loại A được thu mua trong khoảng 84.000–90.000 đồng/kg, loại B từ 64.000–70.000 đồng/kg và loại C từ 45.000–50.000 đồng/kg. Ri6 loại A duy trì mức 35.000–40.000 đồng/kg, loại B từ 20.000–30.000 đồng/kg và loại C từ 15.000–20.000 đồng/kg.
Sự chênh lệch giá trên trước hết thể hiện ở cách phân loại hàng hóa. Trái được xếp loại A có mức giá cao hơn loại B, loại C hoặc hàng lỗi, hàng dạt. Chất lượng trái, độ đồng đều và khả năng đáp ứng yêu cầu của bên thu mua là những yếu tố cần xem xét khi so sánh giá giữa các nhóm. Tuy nhiên, chỉ từ bảng giá chưa thể kết luận mức chênh lệch cụ thể bắt nguồn từ một tiêu chí chất lượng riêng biệt nào.
Bên cạnh phân loại, giá giữa các địa phương cũng không hoàn toàn giống nhau. Số liệu tại Đắk Lắk, Gia Lai, Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ cho thấy cùng một giống sầu riêng có thể được thu mua ở các mức khác nhau. Để xác định nguyên nhân cụ thể, cần có thêm thông tin về thời điểm khảo sát, sản lượng hàng đạt chuẩn, nhu cầu của kho thu mua và điều kiện giao nhận tại từng khu vực.
Xuất khẩu sầu riêng tăng
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 9, giá trị xuất khẩu đạt hơn 1,19 tỷ USD.
Đối với sầu riêng, kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm đạt 1,97 tỷ USD, tăng 28,3%. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ chủ lực với giá trị 1,85 tỷ USD. Ngành nông nghiệp đặt mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu sầu riêng lên 4 tỷ USD trong năm 2026.

Tuy nhiên, việc mở rộng thị trường cũng đi kèm yêu cầu kiểm soát chất lượng và tổ chức sản xuất. Nếu diện tích trồng tăng nhanh nhưng thiếu quy hoạch, nguồn cung có thể mất cân đối, đồng thời gây khó khăn cho việc kiểm soát quy trình canh tác và chất lượng sản phẩm.
Trong bối cảnh sầu riêng vẫn là mặt hàng đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu rau quả, duy trì chất lượng và kiểm soát vùng nguyên liệu là những yếu tố cần thiết để hạn chế rủi ro, bảo đảm đầu ra cho nông dân và hỗ trợ ngành hàng phát triển ổn định trong thời gian tới.