•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•

Năm 2025, bức tranh kinh tế vĩ mô Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng cao và ấn tượng khoảng 8,02%. Tuy nhiên, theo đánh giá trong bài viết, mô hình tăng trưởng phía sau vẫn có dấu hiệu chịu tác động bởi khuôn mẫu dựa trên tín dụng truyền thống. Chất lượng tăng trưởng hiện tại thể hiện rõ hơn ở các yếu tố như năng suất tổng yếu tố (TFP), qua đó tạo ra hiệu ứng tăng trưởng mang tính hệ thống.
Về kinh tế số, bài viết cho rằng không nên coi đây là một khu vực kinh tế độc lập. Dù Việt Nam đặt ra các chỉ tiêu pháp lý trong Nghị quyết Đại hội Đảng, tỷ lệ thực tế của kinh tế số năm 2025 chỉ đạt 14,02%, còn cách mục tiêu 20%. Quan điểm được nêu là kinh tế số nên được nhìn như một “hạ tầng tăng trưởng”, tạo nền tảng cho toàn bộ nền kinh tế.
Báo cáo Đánh giá Kinh tế Việt Nam 2025 của Đại học Kinh tế Quốc dân được dẫn lại với điểm nhấn: kinh tế số lõi chiếm khoảng 60%, trong khi động lực tăng trưởng thực sự cần đến từ tác động lan tỏa tới các ngành khác thông qua hệ số lan tỏa và liên kết xuôi – ngược. Mục tiêu đảo ngược cơ cấu (60% là kinh tế số lan tỏa và 40% là kinh tế số lõi) được đánh giá là khó đạt ngay trong ngắn hạn, do đó cần đầu tư đồng bộ công nghệ lõi, bán dẫn và hạ tầng năng lượng số.
Bài viết nhấn mạnh yêu cầu chuyển tư duy từ “tích lũy thêm nguồn lực” sang “tối ưu hóa nguồn lực”, trong bối cảnh nguồn lực truyền thống ngày càng khan hiếm và tác động biên giảm dần. Dù đã có nhiều nghị quyết cho các thành phần kinh tế như kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước và tới đây là FDI, điểm còn thiếu được nêu là sự phối hợp có hệ thống và tầm nhìn kiến tạo chung. Vai trò của thể chế được xem là yếu tố kết nối các nguồn lực.
Đối với đầu tư công, bài viết đề xuất cách hiểu theo hướng mới: tập trung vào tác động lan tỏa và khả năng kích hoạt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Trong năm 2026, với nhiều biến số địa chính trị và yêu cầu tăng trưởng nhanh, xanh, chỉ tăng trưởng đơn thuần sẽ chưa đủ; tăng trưởng cần gắn với khả năng chống chịu của nền kinh tế. Từ đó, cần một “lá chắn” dựa trên quan điểm đánh giá toàn diện và tầm nhìn tăng trưởng mang tính kiến tạo nhằm tối ưu hóa nguồn lực để đạt mục tiêu bền vững.
Về AI và công nghệ, bài viết cho rằng AI đang tiến nhanh hơn so với cách tiếp cận truyền thống. Các hệ thống AI mới thậm chí được đề cập là đã tạo ra cảnh báo “đỏ” về an ninh trong ngành ngân hàng. Đồng thời, doanh nghiệp Việt Nam dù năng động nhưng lo ngại về việc cắt giảm việc làm và thách thức đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tuyển dụng nhân tài công nghệ cao.
Bài viết cũng nêu rằng doanh nghiệp nội địa có thể bị lép vế trước các tập đoàn xuyên quốc gia do chi phí tuân thủ quy định tại Việt Nam cao.
Để phát triển công nghệ, bài viết kiến nghị ban hành ít chính sách hơn và tạo không gian phát triển trước khi luật hóa. Theo đó, nên áp dụng quản lý theo hướng “Light-touch regulation” nhằm hỗ trợ và kiến tạo không gian thử nghiệm.
Về cơ chế sandbox, bài viết cho rằng có thể đóng vai trò quan trọng để gắn kết kinh tế số với đổi mới sáng tạo. Cụ thể, cần sandbox về tài chính cho tài sản trí tuệ để dùng làm thế chấp vay vốn; đồng thời có sandbox về dữ liệu xuyên biên giới ở các khu thương mại tự do để giảm rào cản quy định.
Tuy nhiên, bài viết cũng cảnh báo “bẫy Sandbox” khi thử nghiệm diễn ra chậm, kéo dài thời gian luật hóa. Kinh tế số được mô tả là việc ứng dụng hiệu quả công nghệ số để thay đổi mô hình tăng trưởng, là trách nhiệm chung của toàn xã hội chứ không phải của riêng một cơ quan. Theo Nghị quyết 57-NQ/TW, trọng tâm được nêu gồm năm trụ cột: thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược, trong đó thể chế phải dẫn đầu.
Trong triển khai, bài viết đề cập việc phối hợp với các bộ, ngành để thực hiện các sandbox, đồng thời dẫn ví dụ mô hình “Kinh tế hàng không tầm thấp” tại Điện Biên nhằm rút kinh nghiệm và lan tỏa.
Bài viết đề cập nhiều ý kiến về khả năng đạt mức tăng trưởng hai chữ số trong năm 2026, mục tiêu được mô tả là tham vọng nhưng có cơ sở từ kết quả trên 8% năm 2025. Các tiền đề thể chế được nêu gồm các nghị quyết của Bộ Chính trị và kết luận 18-KL/TW của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất được nhấn mạnh là khâu thực thi.
Theo bài viết, Việt Nam có tốc độ xây dựng chính sách nhanh, nhưng sự thần tốc đôi khi dẫn tới sai lệch trong văn bản hướng dẫn cấp dưới; trong khi vai trò dữ liệu thời gian thực vẫn còn mờ nhạt. Năm 2025, có 173 văn bản ban hành chậm so với hiệu lực; năm 2026 với gần 90 luật mới, nếu thiếu văn bản hướng dẫn kịp thời, cơ hội của nền kinh tế có thể bị bỏ lỡ.
Bài viết cũng nêu tâm lý “ngại” của cán bộ thực thi. Ví dụ, một dự án tài trợ 4 tỷ đồng cho sáng kiến số bị đình trệ do cơ quan thẩm định không biết dựa vào đâu để định giá giá trị của các dòng code.
Về mức độ sẵn sàng cho kinh tế số, bài viết cho rằng dù tốc độ thay đổi chính sách nhanh nhất khu vực, khả năng hấp thụ của doanh nghiệp vẫn là câu hỏi lớn. Dữ liệu được nêu: 48% doanh nghiệp nhỏ và vừa đã từ bỏ giải pháp chuyển đổi số ngay sau Covid-19.
Bài viết cũng đề cập thảo luận về giao kết hợp đồng trên nền tảng số, nhưng việc thực thi và giải quyết tranh chấp sau đó vẫn chưa được làm rõ.
Về dữ liệu, bài viết mô tả đây là tư liệu sản xuất mới, đồng thời nêu thách thức trong việc cân đối giữa an ninh và phát triển kinh tế.
Về công nghệ chiến lược, bài viết nhấn mạnh cần tránh gia công giá trị gia tăng thấp và phải kiểm soát, làm chủ theo danh mục công nghệ đã được Thủ tướng ban hành.
Về điều phối, bài viết cho rằng không cần quá nhiều cơ quan chồng chéo. Hệ thống chỉ đạo hiện nay được mô tả là đã thiết lập xuyên suốt từ Ban Chỉ đạo Trung ương xuống địa phương. Với kinh tế số là một mắt xích quan trọng, bài viết kiến nghị mỗi bộ, ngành cần cụ thể hóa mục tiêu số vào chương trình hành động, thiết lập cơ chế đo lường định kỳ và gắn trách nhiệm với người đứng đầu.
Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng vừa kiểm tra thực địa tại nút giao Phạm Tu – đường 70. Dự án có tổng vốn đầu tư hơn 1.921 tỉ đồng, trong đó giá trị nút giao Phạm Tu – đường 70 gần 786 tỉ đồng; giá trị…