Giai đoạn căng thẳng nhất của mặt bằng lãi suất nhiều khả năng đã qua, nhưng dư địa hỗ trợ từ lãi suất chưa đủ mạnh để thúc đẩy dòng tiền trở lại thị trường chứng khoán trên diện rộng trong những tháng cuối năm.
Lãi suất cho vay hạ nhiệt, huy động vẫn neo cao
Một trong những biến số được nhà đầu tư đặc biệt quan tâm thời gian gần đây là diễn biến lãi suất. Tăng trưởng tín dụng tương đối nhanh trong khi huy động vốn chưa theo kịp từng làm dấy lên lo ngại mặt bằng lãi suất có thể tăng, qua đó gây áp lực lên chi phí vốn của doanh nghiệp và sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán.
Tính đến ngày 31/7/2026, dư nợ toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp đạt trên 10,7 triệu tỷ đồng, chiếm 53,4% tổng dư nợ.

Tuy nhiên, những tín hiệu căng thẳng thanh khoản mới chỉ có chiều hướng được giải tỏa một phần nhờ sự chủ động trong điều hành của cơ quan quản lý, trong khi lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng vẫn duy trì ở mặt bằng cao để giữ chân dòng vốn.
Bên cạnh các công cụ trên thị trường mở, chính sách tiền tệ tiếp tục hướng tới tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế. Các biện pháp gồm nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động lên 50% và triển khai gói tín dụng ưu đãi 220.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua 4 ngân hàng thương mại nhà nước. Ngân hàng Nhà nước cũng định hướng các ngân hàng thương mại áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng đó. Các gói tín dụng ưu đãi được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Ngoài ra, đầu tư công thường có xu hướng giải ngân mạnh hơn về cuối năm, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và tạo thêm động lực cho hoạt động đầu tư.
Tựu trung, các động thái gần đây cho thấy định hướng tăng cường thanh khoản hệ thống và hỗ trợ lãi suất cho vay, phản ánh rõ hơn bài toán chính sách hướng tới mục tiêu kép: vừa đáp ứng nhu cầu tín dụng phục vụ tăng trưởng, vừa hạn chế cầu vốn tăng quá nhanh gây sức ép lên mặt bằng lãi suất và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, trên thực tế, lãi suất huy động tại nhiều kỳ hạn mới chỉ chững đà tăng mà chưa có dấu hiệu hạ nhiệt trong ngắn hạn, cho thấy áp lực huy động vốn của hệ thống ngân hàng chưa hoàn toàn được giải tỏa.
Trước đó, nhà đầu tư lo ngại tín dụng tăng nhanh có thể kéo theo cuộc đua huy động vốn và đẩy lãi suất lên cao. Khả năng điều tiết thanh khoản của cơ quan quản lý đang góp phần giảm bớt áp lực này, nhưng cạnh tranh huy động vốn giữa các ngân hàng chưa thực sự hạ nhiệt. Lãi suất tiền gửi, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn và trung hạn, vẫn neo ở mặt bằng cao so với giai đoạn trước.
Lực đỡ đã có, nhưng chưa đủ mạnh để lan tỏa
Đối với thị trường chứng khoán, xu hướng lãi suất có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với dòng tiền, mà còn tác động trực tiếp đến định giá và triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp.
Ở chiều tích cực, lãi suất cho vay hạ nhiệt sẽ giúp giảm chi phí tài chính, đặc biệt đối với những ngành thâm dụng vốn như xây dựng, vật liệu xây dựng, hạ tầng và sản xuất. Các ngành thuộc nhóm được ưu đãi cũng có thể hưởng lợi tích cực từ chính sách này.
Chi phí vốn giảm trong khi hoạt động kinh doanh phục hồi, triển vọng lợi nhuận có thể được cải thiện, qua đó tạo nền tảng tốt hơn cho định giá cổ phiếu. Tuy nhiên, mức độ cải thiện sẽ khác nhau giữa các doanh nghiệp, tùy theo cơ cấu nợ vay và khả năng tiếp cận nguồn vốn giá rẻ, nên hiệu ứng tích cực khó lan tỏa đồng đều trên toàn thị trường.
Ngược lại, khi lãi suất huy động - đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn - vẫn duy trì ở mức cao, sức hấp dẫn tương đối của kênh tiền gửi chưa suy giảm đáng kể, khiến dòng tiền dịch chuyển sang chứng khoán diễn ra thận trọng và có chọn lọc hơn là ồ ạt.
Nhịp điều chỉnh của VN-Index trong tháng 7, cùng kết quả kinh doanh quý II tích cực, đã đưa P/E của phần lớn nhóm ngành xuống dưới trung vị 10 năm. P/B của nhiều ngành cũng thấp hơn hoặc tiệm cận trung vị lịch sử, cho thấy mặt bằng định giá đã trở nên hấp dẫn hơn trong bối cảnh triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp tiếp tục cải thiện.
Thị trường nhiều khả năng sẽ tiếp tục tích lũy và phân hóa mạnh trong thời gian tới. Những doanh nghiệp có đòn bẩy nợ lớn sẽ dễ tổn thương hơn trong môi trường chi phí vốn cao.
Đối với nhóm ngân hàng, mặt bằng lãi suất cho vay giảm trong khi chi phí huy động chưa giảm tương ứng có thể gây sức ép lên biên lãi ròng (NIM). Những ngân hàng có lợi thế về nguồn vốn giá rẻ, tỷ lệ CASA ở mức cao, chất lượng tài sản cải thiện và khả năng gia tăng thu nhập ngoài lãi sẽ có nhiều dư địa hơn để duy trì tăng trưởng lợi nhuận.

Bất động sản cũng là nhóm có độ nhạy cao với lãi suất. Do lãi suất cho vay mua nhà tại nhiều ngân hàng vẫn chịu ảnh hưởng đáng kể từ chi phí huy động đầu vào, mức độ hỗ trợ cho nhu cầu vay mua nhà trong ngắn hạn có thể chưa rõ nét như kỳ vọng. Những doanh nghiệp bất động sản có dự án sẵn sàng mở bán với mức giá hợp lý, pháp lý hoàn thiện và bảng cân đối tài chính lành mạnh có thể có lợi thế hơn.
Với xây dựng, hạ tầng và đầu tư công, lãi suất cho vay được ổn định và hạ nhiệt góp phần giúp giảm chi phí vốn đối với các dự án trọng điểm có thời gian triển khai dài và nhu cầu vốn lớn. Tuy nhiên, động lực quan trọng hơn đối với nhóm này vẫn là tiến độ đầu tư công, giá trị hợp đồng và khả năng thực hiện khối lượng công việc tồn đọng (backlog) và chuyển hóa thành doanh thu, lợi nhuận. Vì vậy, lãi suất cho vay hạ nhiệt nên được nhìn nhận là yếu tố hỗ trợ, thay vì động lực duy nhất của giá cổ phiếu.
Bán lẻ và tiêu dùng có thể hưởng lợi gián tiếp khi chi phí tín dụng tiêu dùng giảm và sức mua được cải thiện, tuy nhiên mức độ lan tỏa còn phụ thuộc vào tốc độ giảm thực tế của lãi suất cho vay tiêu dùng. Những doanh nghiệp bán lẻ duy trì được tốc độ bán hàng và năng lực mở rộng chuỗi cung ứng trong môi trường lãi suất cao sẽ có lợi thế rõ rệt hơn so với các doanh nghiệp còn lại.
Trong trung hạn, thị trường còn nhận được sự hỗ trợ từ tăng trưởng kinh tế, chính sách tài khóa, triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp và kỳ vọng dòng vốn ngoại gia tăng khi tiến trình nâng hạng thị trường bước vào giai đoạn mới.
Tuy nhiên, lãi suất cho vay hạ nhiệt không đồng nghĩa mặt bằng lãi suất huy động sẽ sớm quay về mức thấp như giai đoạn trước, trong bối cảnh môi trường vĩ mô quốc tế và trong nước đã có nhiều thay đổi, trong khi nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế trong trung hạn vẫn rất lớn. Mặt khác, lãi suất cũng không phải biến số vĩ mô duy nhất quyết định xu hướng thị trường chứng khoán. Áp lực lạm phát, tỷ giá và diễn biến chính sách tiền tệ quốc tế vẫn cần tiếp tục được theo dõi sát.
Điểm tích cực trong những tháng cuối năm không nằm ở kỳ vọng lãi suất giảm nhanh và đồng loạt, mà ở khả năng giai đoạn căng thẳng nhất của mặt bằng lãi suất đã đi qua. Thanh khoản hệ thống ổn định hơn, áp lực tăng lãi suất cho vay được kiểm soát, trong khi lãi suất huy động cần thêm thời gian để hạ nhiệt.
Khi kết hợp với mặt bằng định giá hợp lý hơn, triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp và kỳ vọng nâng hạng thị trường, chứng khoán có thêm cơ sở thu hút dòng tiền. Tuy nhiên, để tạo sức bật trên diện rộng, thị trường vẫn cần thêm thời gian tích lũy và chờ tín hiệu lãi suất huy động hạ nhiệt rõ nét, qua đó củng cố xu hướng tăng trưởng bền vững hơn trong trung hạn.