Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh, nhưng cơ hội trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn toàn cầu vẫn chưa rộng mở với nhiều doanh nghiệp trong nước. Khoảng cách không chỉ nằm ở vốn, công nghệ hay quản trị mà còn ở cách kết nối và đào tạo nhân lực chưa thực sự đáp ứng yêu cầu để trở thành nhà cung ứng phù hợp.
Dòng vốn lớn, liên kết vẫn chậm
Theo Cục Thống kê, 7 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam (bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài) đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58,0% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam ước đạt 15,20 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi phần lớn vốn FDI vào Việt Nam thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, việc dòng vốn FDI tiếp tục gia tăng mặc dù cho thấy sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt nhà đầu tư quốc tế, nhưng tăng trưởng về quy mô vốn chưa đồng nghĩa doanh nghiệp Việt Nam đương nhiên có thêm đơn hàng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Khoảng cách giữa thu hút dự án FDI và việc hình thành mạng lưới nhà cung ứng nội địa đủ năng lực vẫn còn đáng kể.
Thực tế tại Hưng Yên phần nào cho thấy khoảng trống này. Theo thông tin được lãnh đạo tỉnh chia sẻ, địa phương đang định hướng các khu công nghiệp mới theo hướng có cả doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước hoạt động trong những lĩnh vực có khả năng bổ trợ cho nhau. Cách bố trí này được kỳ vọng tạo thêm cơ hội tiếp xúc, kết nối và từng bước hình thành quan hệ cung ứng giữa hai khu vực doanh nghiệp.
Tuy nhiên, việc cùng hiện diện trong một không gian sản xuất mới chỉ là điều kiện ban đầu. Để được một tập đoàn đa quốc gia lựa chọn làm nhà cung ứng, doanh nghiệp Việt Nam còn phải đáp ứng hàng loạt yêu cầu khắt khe về công nghệ, chất lượng, quản trị, chi phí và tiến độ giao hàng.
Câu chuyện hợp tác giữa Intel và Fab 9 là một ví dụ. Fab 9 - doanh nghiệp do doanh nhân gốc Việt thành lập với nhà máy chính tại Bình Dương, đã trở thành một trong những nhà cung ứng của Intel tại Việt Nam. Để đáp ứng yêu cầu của tập đoàn công nghệ này, doanh nghiệp phải trải qua quá trình nâng cấp năng lực với sự tham gia trực tiếp của Intel, từ đào tạo nhân lực đến cải tiến kỹ thuật và quy trình sản xuất.
Điều đó cho thấy khoảng cách giữa một doanh nghiệp có khả năng sản xuất và một doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn bước vào chuỗi cung ứng toàn cầu không dễ thu hẹp trong thời gian ngắn.
Theo bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), điểm nghẽn đến từ cả hai phía. Các tập đoàn FDI thường có hệ thống nhà cung ứng đã hợp tác lâu năm, trong khi nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về vốn, năng lực quản trị và công nghệ.
Ở góc độ nhà đầu tư, ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam, cho rằng ưu đãi không còn là yếu tố duy nhất tác động đến quyết định đầu tư. Nhà đầu tư còn quan tâm đến khả năng dự báo của chính sách, chất lượng nguồn nhân lực và mức độ hoàn thiện của hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ.
Vì vậy, để dòng vốn FDI lan tỏa sâu hơn vào nền kinh tế, Việt Nam không chỉ cần thu hút thêm dự án mà còn phải nâng cao năng lực của doanh nghiệp nội địa và tạo ra những cơ chế kết nối thực chất giữa người mua và nhà cung ứng.
Đào tạo theo đơn hàng, hỗ trợ theo kết quả
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45-50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó khoảng 500-1.000 nhà cung ứng cấp I.
Nghị quyết đồng thời đặt ra định hướng chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết. Đây là thay đổi đáng chú ý nếu mục tiêu không chỉ là gia tăng quy mô vốn FDI mà còn nâng chất lượng và mức độ lan tỏa của khu vực này đối với nền kinh tế trong nước.

Theo bà Bùi Thu Thủy, thời gian qua các cơ quan nhà nước đã triển khai nhiều chương trình đào tạo, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, một trong những hạn chế là nội dung đào tạo đôi khi chưa bám sát tiêu chuẩn cụ thể của người mua. Doanh nghiệp có thể hoàn thành khóa đào tạo nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện để trở thành nhà cung ứng cho tập đoàn FDI.
Vì vậy, đào tạo cần bắt đầu từ nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá của chính tập đoàn. Thay vì đào tạo trước rồi mới tìm đầu ra, doanh nghiệp cần biết rõ khách hàng cần sản phẩm gì, tiêu chuẩn ra sao và những khoảng cách năng lực nào phải được khắc phục.
Mô hình Samsung cho thấy hiệu quả của việc tập đoàn trực tiếp tham gia nâng cấp năng lực nhà cung ứng. Đến tháng 7/2026, các chương trình phối hợp với Bộ Công Thương và địa phương đã tư vấn cải tiến cho 379 doanh nghiệp Việt Nam, đào tạo 406 chuyên gia cải tiến và 209 chuyên gia khuôn mẫu. Chương trình nhà máy thông minh cũng hỗ trợ 82 doanh nghiệp và đào tạo 201 chuyên gia.
Điểm đáng chú ý của mô hình này là chuyên gia không chỉ truyền đạt kiến thức trong lớp học mà trực tiếp đến doanh nghiệp, cùng rà soát dây chuyền, quy trình và các điểm nghẽn trong sản xuất. Nhờ đó, hoạt động đào tạo được gắn với những thay đổi có thể đo lường trong năng suất và năng lực vận hành.
Tuy nhiên, hỗ trợ tài chính chỉ phát huy tác dụng nếu gắn với đầu ra có thể kiểm chứng. Kết quả của một chương trình phát triển nhà cung ứng không nên chỉ đo bằng số lớp đào tạo hay số người tham dự, mà quan trọng hơn là số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn, được công nhận là nhà cung ứng, ký được hợp đồng và duy trì đơn hàng.
Cơ chế hậu kiểm vì vậy cũng cần đủ rõ để tránh hỗ trợ dàn trải hoặc sử dụng ngân sách cho những chương trình không tạo ra liên kết thực chất.
Theo ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên chuyên trách của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, việc hình thành liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước khó có thể chỉ trông chờ vào sự tự nguyện của hai bên. Nhà nước cần có công cụ tạo động lực, đồng thời phát huy vai trò của các định chế trung gian trong xác nhận năng lực nhà cung ứng, xây dựng niềm tin và giám sát các cam kết ban đầu.
Vai trò trung gian này có thể được thực hiện bởi hiệp hội doanh nghiệp, chính quyền địa phương hoặc những tổ chức chuyên trách có đủ năng lực đánh giá doanh nghiệp.
Cùng với đào tạo, bài toán vốn cũng cần được tính đến. Để đạt tiêu chuẩn của các tập đoàn toàn cầu, doanh nghiệp thường phải đầu tư trước vào máy móc, hệ thống quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc và nhân lực, trong khi khả năng có được hợp đồng chưa chắc chắn.
Do đó, nếu chương trình phát triển nhà cung ứng được kết hợp với tín dụng trung, dài hạn hoặc các công cụ tài trợ chuỗi cung ứng, doanh nghiệp sẽ có thêm nguồn lực để thực hiện quá trình nâng cấp.
Dù vậy, chính sách không thể làm thay nỗ lực của doanh nghiệp. Cơ hội chỉ thực sự trở thành đơn hàng khi chất lượng, tiến độ, năng lực quản trị và tính minh bạch được duy trì ổn định.
Trở thành nhà cung ứng cho doanh nghiệp FDI cũng không nên được xem là đích đến cuối cùng. Giá trị lớn hơn nằm ở quá trình doanh nghiệp Việt Nam tích lũy công nghệ, nâng năng lực thiết kế, quản trị và tổ chức sản xuất để từng bước đảm nhận những khâu có giá trị gia tăng cao hơn.
Khi đó, liên kết với khu vực FDI không chỉ giúp doanh nghiệp Việt có thêm đơn hàng, mà có thể trở thành một nấc thang để doanh nghiệp trưởng thành về công nghệ và năng lực cạnh tranh, tiến tới tham gia sâu hơn, thậm chí từng bước xây dựng những chuỗi giá trị do doanh nghiệp Việt Nam giữ vai trò dẫn dắt.