Thảo luận về định hướng sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, các đại biểu Quốc hội đề nghị chuyển mạnh từ tư duy bồi thường tài sản sang tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi, trong đó phải bảo đảm chỗ ở, sinh kế và điều kiện sống ổn định trước hoặc đồng thời với thời điểm thu hồi đất; đồng thời tăng tính minh bạch trong xác định giá bồi thường để tạo đồng thuận.

Không để tiến độ dự án thành căn cứ để thúc đẩy việc thu hồi đất
Sáng ngày 21/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.
Góp ý về chính sách thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đại biểu Nguyễn Đại Thắng (Đoàn Hưng Yên) cho rằng, việc bảo đảm ổn định đời sống, sinh kế của người có đất bị thu hồi là vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong quá trình hoàn thiện chính sách.
Theo đại biểu, Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã thể hiện cách tiếp cận mới, chuyển từ tư duy chỉ bồi thường tài sản sang tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi. Đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định tại Điều 42 dự thảo Luật theo hướng cụ thể hóa yêu cầu tái thiết cuộc sống, bảo đảm người có đất bị thu hồi có nơi ở, điều kiện sống và sinh kế bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
Trong đó, cần nghiên cứu quy định rõ hơn thứ tự ưu tiên và điều kiện áp dụng các hình thức bồi thường; ưu tiên bố trí đất có cùng mục đích sử dụng hoặc nhà ở tại nơi tái định cư. Bồi thường bằng tiền chỉ thực hiện khi không đủ quỹ đất, quỹ nhà phù hợp hoặc theo nguyện vọng của người bị thu hồi đất.
Đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chính sách bồi thường, hỗ trợ cũng cần gắn với khả năng tiếp cận hạ tầng hoặc chuyển đổi sinh kế bền vững, tránh tình trạng người dân được bồi thường về tài sản nhưng gặp khó khăn trong quá trình ổn định cuộc sống sau khi bị thu hồi đất.

Đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (Đoàn TP. Cần Thơ) cũng cho rằng, hiệu quả tái định cư không thể chỉ đánh giá qua việc khu tái định cư có đường, điện, nước mà phải xem xét đồng bộ chỗ ở, hạ tầng, sinh kế, việc làm, thu nhập và mức độ ổn định của người dân sau khi chuyển đến nơi ở mới.
Đại biểu đề nghị bổ sung quy định cơ quan tổ chức thực hiện tái định cư có trách nhiệm theo dõi, đánh giá điều kiện sống của người được tái định cư sau khi bố trí chỗ ở. Nội dung đánh giá cần bao gồm khả năng tiếp cận hạ tầng thiết yếu, việc làm, sinh kế và thu nhập; đồng thời có biện pháp hoặc đề xuất hỗ trợ bổ sung kịp thời đối với những trường hợp chưa bảo đảm điều kiện ổn định cuộc sống.
Đại biểu Tạ Văn Hạ (Đoàn TP. Đà Nẵng) nhấn mạnh, mục tiêu đẩy nhanh tiến độ dự án, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công là cần thiết nhưng phải được đặt ngang hàng với yêu cầu ổn định đời sống, chỗ ở và sinh kế của người dân.
Theo đại biểu, khi một gia đình bị thu hồi đất mà chưa được bố trí nơi ở mới, vấn đề phát sinh không chỉ nằm ở số tiền bồi thường, mà còn liên quan đến việc học hành của con cái, sinh kế, việc làm, cuộc sống của người già, trẻ nhỏ và những thành viên có hoàn cảnh đặc thù.
“Vấn đề không phải chỉ là bồi thường bao nhiêu tiền, mà là ổn định cuộc sống cho gia đình người dân như thế nào”, đại biểu Tạ Văn Hạ nói.
Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn Hưng Yên) cho rằng, cần nhìn chương về thu hồi đất và chương về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như một chỉnh thể. Nếu chính sách đặt ra yêu cầu tái thiết cuộc sống thì cơ chế thu hồi đất cũng phải bảo đảm các điều kiện đó được thực hiện trước hoặc đồng thời với thời điểm quyền sử dụng đất của người dân bị chấm dứt.

Theo đại biểu, quy định tại khoản 3 Điều 36 về việc cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi đất theo tiến độ của dự án đầu tư hoặc theo tiến độ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có thể tạo ra cách hiểu rằng tiến độ dự án đầu tư có thể trở thành căn cứ để quyết định thu hồi đất ngay cả khi việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa hoàn tất.
Do đó, đại biểu đề nghị thiết lập nguyên tắc ngay trong luật, theo đó việc thu hồi đất chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành các điều kiện cần thiết để người bị thu hồi có chỗ ở thực tế phù hợp; hoặc phải có cơ chế chuyển tiếp bắt buộc, bảo đảm người dân không rơi vào tình trạng đã bị thu hồi đất, không còn nhà ở nhưng vẫn chưa có nơi ở mới.
Đối với đất sản xuất, kinh doanh và đất nông nghiệp, đại biểu Nguyễn Văn Huy đề nghị tiếp cận tương tự về sinh kế. Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần xác định cụ thể phương án ổn định chỗ ở và phương án khôi phục, chuyển đổi sinh kế đối với trường hợp người dân bị thu hồi đất sản xuất; việc thu hồi đất được thực hiện trên cơ sở các phương án này đã được phê duyệt và đáp ứng các điều kiện theo luật.
Đại biểu cũng đề nghị xem lại cách diễn đạt tại khoản 3 Điều 36, không để tiến độ của dự án đầu tư trở thành căn cứ độc lập để thúc đẩy việc thu hồi đất. Theo ông, tiến độ dự án phải gắn với trách nhiệm của nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong việc hoàn thành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bảo đảm quyền lợi của người có đất bị thu hồi.
Công khai xác định giá bồi thường, tái định cư phải bảo đảm sinh kế
Bên cạnh yêu cầu bảo đảm chỗ ở, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ hơn cơ chế xác định giá bồi thường và trách nhiệm phục hồi sinh kế cho người dân.
Đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn Vĩnh Long) cho rằng, cơ chế xác định giá bồi thường tại Điều 72 và Điều 76 là vấn đề cần được ưu tiên bởi giá bồi thường là một trong những yếu tố trực tiếp quyết định sự đồng thuận của người có đất bị thu hồi.
Theo đại biểu, khi bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất trở thành căn cứ trực tiếp để tính tiền bồi thường thì yêu cầu về tính chính xác, minh bạch và khả năng giải trình phải cao hơn. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung trách nhiệm công khai các thông tin chủ yếu như nguồn dữ liệu, kỳ dữ liệu, căn cứ xác định hệ số điều chỉnh và các yếu tố chính hình thành mức giá.
“Người có đất bị thu hồi không chỉ cần biết được bồi thường bao nhiêu mà cần biết được vì sao mức bồi thường được xác định như vậy”, đại biểu Thạch Phước Bình nêu.
Đối với trường hợp người dân phải di chuyển chỗ ở nhưng chưa được bàn giao đất hoặc nhà tái định cư, đại biểu đề nghị mở rộng cơ chế bảo đảm tạm cư cho tất cả trường hợp, thay vì chỉ giới hạn ở một số loại dự án.
Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần xác định rõ thời hạn dự kiến bàn giao nơi tái định cư, mức hỗ trợ tạm cư và trách nhiệm khi chậm bàn giao. Nếu việc bàn giao chậm không do lỗi của người dân, mức hỗ trợ tiền thuê nhà cần được điều chỉnh phù hợp với giá thuê thực tế và thời gian chậm bố trí.
Đại biểu cũng đề nghị các tiêu chí về suất tái định cư tối thiểu không chỉ dựa vào diện tích hoặc giá trị mà phải tính đến quy mô hộ gia đình, nhu cầu sinh hoạt thiết yếu và khả năng tiếp cận hạ tầng xã hội.
“Chính sách tái định cư phải bảo đảm người dân có nơi ở thực chất, chứ không chỉ bảo đảm một giá trị bồi thường về mặt tài chính”, đại biểu Thạch Phước Bình nhấn mạnh.

Về phục hồi sinh kế, đại biểu cho rằng Điều 47 cần được cụ thể hóa hơn, bởi đối với nhiều hộ gia đình, thu hồi đất không chỉ làm mất một tài sản mà còn làm mất nguồn sinh kế. Theo đó, trường hợp thu hồi đất làm mất hoặc suy giảm đáng kể nguồn sinh kế chính của người có đất bị thu hồi thì phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần có nội dung phục hồi sinh kế.
Các biện pháp được đại biểu đề xuất gồm đào tạo, chuyển đổi nghề, kết nối việc làm, hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ chuyển đổi mô hình sản xuất kinh doanh, bố trí hoặc ưu tiên thuê địa điểm sản xuất, thương mại, dịch vụ phù hợp. Đại biểu đồng thời đề nghị quy định trách nhiệm theo dõi, đánh giá kết quả ổn định đời sống, phục hồi sinh kế sau thu hồi đất, nhất là với những dự án có quy mô thu hồi đất và số người bị ảnh hưởng lớn.
Theo hướng này, việc đánh giá chính sách không chỉ dừng ở việc đã hỗ trợ bao nhiêu mà cần chuyển sang đánh giá sau hỗ trợ, người dân có thực sự ổn định cuộc sống hay không.
Đại biểu Thạch Phước Bình cũng đề nghị địa phương chủ động dự báo nhu cầu tái định cư trung hạn, chuẩn bị quỹ đất, quỹ nhà tái định cư gắn với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chương trình phát triển nhà ở và kế hoạch đầu tư công.
Đồng thời, cần bổ sung các tiêu chí về khả năng duy trì việc làm, sinh kế, học tập, chăm sóc y tế và quan hệ cộng đồng khi bố trí tái định cư. Theo đại biểu, một khu tái định cư dù đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật nhưng quá xa nơi làm việc, trường học hoặc không phù hợp với sinh kế của người dân thì chưa thể được coi là tái định cư có chất lượng.