•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•

Với kinh nghiệm khoảng 80 năm vận hành công nghệ hạt nhân riêng, Canada không chỉ có công nghệ mà còn sở hữu hệ sinh thái công nghiệp, nguồn uranium, kinh nghiệm đào tạo và năng lực vận hành. Theo TS. Trần Thu Quỳnh, Tham tán Thương mại, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Canada, những yếu tố này cho thấy Canada là đối tác phù hợp và giàu tiềm năng đối với Việt Nam trong lĩnh vực điện hạt nhân.
Chiến lược phát triển và hòa bình hóa năng lượng hạt nhân của Canada đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu phát triển và ứng dụng năng lượng nguyên tử theo hướng an toàn, an ninh, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, bảo vệ môi trường và củng cố an ninh năng lượng quốc gia. Chiến lược cũng gắn với cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Canada đồng thời đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu và phát triển hạt nhân với nguồn vốn lên tới hàng tỷ USD nhằm xây dựng hạ tầng nghiên cứu hiện đại, phát triển vật liệu hạt nhân tiên tiến và các giải pháp xử lý, quản lý chất thải phóng xạ.
TS. Trần Thu Quỳnh đánh giá hệ sinh thái năng lượng hạt nhân mà Canada xây dựng có tính đồng bộ, thể hiện năng lực từ công nghệ đến triển khai thực tế. Bên cạnh thế mạnh về công nghệ, Canada có kinh nghiệm lâu năm trong đào tạo nhân lực, vận hành nhà máy, quản lý an toàn và triển khai các giải pháp kỹ thuật cho ngành công nghiệp hạt nhân.
Trong nhiều thập niên, Canada tạo dựng vị thế trong ngành công nghiệp hạt nhân toàn cầu nhờ công nghệ lò CANDU (Canada Deuterium Uranium) – công nghệ lò nước nặng, sử dụng uranium tự nhiên.
Chú thích ảnh: Phát triển điện hạt nhân
Ngoài các tiến bộ trong lò phản ứng CANDU, Canada cũng đầu tư vào các công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR). Canada hiện là nước G7 đầu tiên triển khai thực tế dự án điện hạt nhân sử dụng công nghệ SMR.
Tuy nhiên, theo bà Quỳnh, Canada cũng đang đối mặt thách thức thực tế. Cụ thể, dự án SMR tại Ontario ghi nhận tình trạng chậm tiến độ và đội vốn đáng kể. Ban đầu, mỗi lò phản ứng được kỳ vọng có chi phí khoảng 1 tỷ USD, nhưng đến nay chi phí thực tế đã tăng lên khoảng 7 lần.
Bà cũng nêu quan ngại về giá thành điện thực tế từ SMR hiện chưa chênh lệch nhiều so với các lò phản ứng quy mô lớn truyền thống. Đây là điểm Việt Nam cần cân nhắc khi xây dựng chiến lược phát triển điện hạt nhân trong tương lai.
Dù vậy, Canada vẫn kiên định chiến lược đầu tư dài hạn cho SMR. Nhiều bang như Saskatchewan, Alberta và New Brunswick đang thúc đẩy kế hoạch phát triển điện hạt nhân, trong đó có các dự án SMR. Lợi thế địa lý rộng lớn, dân cư phân tán và nhu cầu điện ở vùng xa khiến SMR được xem là giải pháp phù hợp với điều kiện của Canada.
Theo bà Quỳnh, định hướng của Canada không chỉ dừng ở việc xây dựng một số nhà máy điện hạt nhân, mà là hình thành một hệ sinh thái công nghiệp hạt nhân toàn diện, trong đó Canada giữ vai trò trung tâm trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong đó, một thỏa thuận đáng chú ý trị giá khoảng 1 tỷ USD giữa Canada và Ba Lan nhằm phát triển các cấu phần SMR sản xuất tại Ontario. Canada cũng mở rộng cung cấp các gói tài trợ và tín dụng cho các nước phát triển điện hạt nhân; Romania từng nhận gói tín dụng lên tới 3 tỷ USD từ Canada cho các dự án hạt nhân, trong khi Ba Lan đang đàm phán để tiếp cận nguồn vốn tương tự.
TS. Trần Thu Quỳnh cho biết nhiều nước Đông Nam Á như Singapore, Indonesia, Philippines và Thái Lan đã chủ động tiếp cận Canada để tìm kiếm cơ hội hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân. Chính phủ Canada triển khai chương trình đào tạo cho các nước Đông Nam Á, trước mắt tập trung vào Philippines và Thái Lan.
Các chương trình này không chỉ đào tạo kỹ sư mà còn hướng tới xây dựng đội ngũ “đào tạo viên”, giúp các quốc gia hình thành năng lực đào tạo nội địa lâu dài.
“Chúng tôi đang tìm cách tiếp cận các nguồn hỗ trợ tương tự để tăng cường năng lực đào tạo của các trường đại học Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử,” bà Quỳnh chia sẻ.
Theo bà, việc phát triển điện hạt nhân không thể chỉ tập trung vào công nghệ mà còn cần năng lực quản lý, đào tạo nhân lực và khuôn khổ pháp lý. Bà cho rằng Việt Nam cần ưu tiên xây dựng năng lực và khuôn khổ pháp lý trước khi bước vào giai đoạn lựa chọn công nghệ. Đây là lĩnh vực Canada có thể hỗ trợ hiệu quả nhờ kinh nghiệm nhiều thập niên trong xây dựng tiêu chuẩn an toàn, vận hành nhà máy, quản lý nhiên liệu và đào tạo nhân lực.
Dù còn nhiều thách thức, TS. Trần Thu Quỳnh đánh giá Canada vẫn là đối tác phù hợp với Việt Nam trong lĩnh vực điện hạt nhân. Bà nhấn mạnh Canada có cả công nghệ và nguồn uranium lớn, đồng thời sở hữu kinh nghiệm đào tạo, quản lý an toàn, vận hành và khả năng hỗ trợ tài chính.
Đáng chú ý, nhiều công nghệ hạt nhân quan trọng hiện nay cũng có sự tham gia sâu của các doanh nghiệp Canada. Từ cuối năm 2023, Westinghouse – doanh nghiệp sở hữu công nghệ AP1000 nổi tiếng của Mỹ – đã được các tập đoàn Canada mua lại, cho thấy Canada đang mở rộng ảnh hưởng trong ngành công nghiệp hạt nhân toàn cầu.
Chú thích ảnh: TS. Trần Thu Quỳnh phát biểu tại Hội thảo quốc tế “Điện hạt nhân quy mô nhỏ: Giải pháp chiến lược cho an ninh năng lượng Việt Nam”.
Tóm lại, trong bối cảnh Việt Nam cân nhắc lộ trình phát triển điện hạt nhân, việc hợp tác với Canada có thể là một bước đi phù hợp để nâng cao năng lực trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp hạt nhân. Trọng tâm được nhấn mạnh là xây dựng khuôn khổ pháp lý, năng lực đào tạo và phát triển công nghệ theo hướng có kế hoạch và bền vững.