•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•

ACV (Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam) vừa phác thảo phương án hai giai đoạn để chuyển giao hoạt động quốc tế từ sân bay Tân Sơn Nhất sang sân bay Long Thành. Mục tiêu của kế hoạch là tập trung lưu lượng quốc tế tại Long Thành nhằm tối ưu công suất, giảm quá tải tại Tân Sơn Nhất và định vị Long Thành trở thành trung tâm hàng không quốc tế quy mô lớn trong khu vực.
Theo đề xuất của ACV, từ khi Long Thành bắt đầu khai thác thương mại đến hết lịch bay mùa Đông 2026 (từ 1/12/2026 đến 27/3/2027), toàn bộ các chuyến bay quốc tế đường dài, bao gồm vận tải hàng hóa, sẽ được chuyển từ Tân Sơn Nhất sang Long Thành.
Giai đoạn này dự kiến chiếm khoảng 19% lưu lượng hành khách quốc tế tại khu vực TP.HCM.
Từ lịch bay mùa hè 2027 đến năm 2030, ACV đề xuất tiếp tục chuyển toàn bộ phần còn lại của các chuyến bay quốc tế sang Long Thành. Ngoại lệ là các đường bay dưới 1.000 km do Vietnam Airlines khai thác.
Nếu phương án được phê duyệt, Long Thành có thể tiếp nhận trên 90% lưu lượng hành khách quốc tế tại khu vực TP.HCM ngay từ năm 2027.
Sau năm 2030, toàn bộ các chuyến bay quốc tế thường lệ sẽ được khai thác từ Long Thành. Tân Sơn Nhất chủ yếu phục vụ chuyến bay nội địa, các chuyến bay quốc tế không thường lệ và các chuyến bay thuê chuyến.
Trong khi nhiều hành khách cho rằng việc chuyển chuyến bay quốc tế sang Long Thành là cần thiết để giảm tải cho Tân Sơn Nhất, một số lo ngại về sự bất tiện do quãng đường di chuyển dài hơn (khoảng hai giờ) nếu hệ thống giao thông chưa đáp ứng kỳ vọng.
Một số ý kiến khác cho rằng việc tiếp cận Tân Sơn Nhất vẫn thuận tiện hơn, nhưng đồng thời ủng hộ sân bay mới nhằm giảm chen lấn và kỳ vọng sân bay lớn hơn sẽ mang lại lợi ích rộng hơn.
Bên cạnh yếu tố di chuyển, hành khách cũng mong đợi nâng cao chất lượng dịch vụ, vệ sinh và hỗ trợ hành khách, đặc biệt đối với người lần đầu đi máy bay.
Các chuyên gia cho rằng kịch bản chuyển đổi theo đề xuất của ACV mang tính điều kiện, phụ thuộc vào ba yếu tố: (1) kết nối mặt đất nhanh và đáng tin cậy; (2) trải nghiệm hành khách (thói quen, chi phí, thời gian); và (3) chiến lược mạng bay của các hãng khi vận hành song song hai sân bay.
Dữ liệu từ IATA được nêu trong bài cho thấy hành khách ngày càng ưu tiên tốc độ và tiện lợi: 50% hành khách đã dùng sinh trắc học ở sân bay; 78% mong muốn một ứng dụng tích hợp hành trình; 88% kỳ vọng có thể theo dõi hành lý theo thời gian thực.
Dữ liệu từ UNWTO cho thấy du lịch nghỉ dưỡng chiếm 50–60% nhu cầu, trong khi du lịch công vụ và MICE chiếm khoảng 20–30%. Khoảng cách giữa Tân Sơn Nhất (khoảng 6–8 km từ trung tâm) và Long Thành (hơn 40 km) có thể làm tăng chi phí tiếp cận nếu hạ tầng mặt đất chưa hoàn thiện, từ đó ảnh hưởng đến sự lựa chọn của một số nhóm hành khách.
Một số lãnh đạo doanh nghiệp du lịch lo ngại về tính khả thi của việc chuyển hơn 90% chuyến bay quốc tế trong năm 2027 do tình trạng tắc nghẽn và thời gian di chuyển. Theo lo ngại được nêu, hành khách quốc tế có thể hạ cánh tại Đà Nẵng, Hà Nội hoặc Nha Trang rồi nối chuyến vào TP.HCM, khiến Long Thành không phải là điểm đến ưu tiên.
Các chuyên gia của Đại học RMIT Việt Nam nhấn mạnh ba biến số then chốt cho tính khả thi lâu dài: (1) kết nối mặt đất nhanh và đáng tin cậy (cao tốc, metro, đường sắt, Vành đai 3); (2) phối hợp mạng lưới bay theo mô hình hub-and-spoke tại Long Thành trong khi Tân Sơn Nhất duy trì tần suất cao và các chuyến bay thuê chuyến; (3) thích ứng với hành vi hành khách để tạo hành trình liền mạch và thuận tiện.
Trong khi đó, các nhà phân tích cho rằng thách thức chiến lược không chỉ là “chuyển tất cả” mà là tối ưu hóa hiệu quả vận hành của từng sân bay. Kinh nghiệm quốc tế được dẫn ra cho thấy việc chuyển đổi hoàn toàn sang một sân bay mới là không dễ dàng: tại Bangkok, Suvarnabhumi vẫn song song với Don Mueang; tại Tokyo, Narita và Haneda cùng hoạt động; Hàn Quốc mất nhiều năm để Incheon trở thành trung tâm chính bên cạnh Gimpo.
Nhận định trong bài được trích từ THÁI PHƯƠNG và QUỲNH TRÂM cho báo Người Lao Động.