Khu vực FDI đóng góp hơn 3/4 kim ngạch xuất khẩu nhưng chỉ có khoảng 10 doanh nghiệp hiện diện trên thị trường chứng khoán, tương đương 0,15% quy mô thị trường. Trong bối cảnh chứng khoán Việt Nam chuẩn bị được FTSE Russell nâng hạng, việc đưa thêm doanh nghiệp FDI lên sàn không chỉ bổ sung nguồn cung hàng hóa mà còn mở rộng lựa chọn cho dòng vốn quốc tế.
Chỉ 10/1.600 doanh nghiệp niêm yết thuộc khối FDI
Hiện nay, trên thị trường chứng khoán, nơi có hơn 1.600 doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch cùng 12 triệu tài khoản nhà đầu tư với quy mô thị lên tới 350 tỷ USD, số doanh nghiệp FDI hiện diện chỉ khoảng 10 đơn vị, chiếm 0,15% quy mô thị trường.
Đây là một khoảng trống đáng chú ý của thị trường chứng khoán Việt Nam được ông Nguyễn Đức Thông, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI chỉ ra tại Hội thảo “From Private to Public: A Listing Roadmap for FDI Enterprises in Viet Nam” sáng 17/9.
“Các doanh nghiệp FDI không còn là những “vị khách” trong nền kinh tế Việt Nam. Sau hơn ba thập kỷ, khu vực FDI đã góp phần xây dựng nên một phần quan trọng của nền kinh tế nhưng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trên thị trường chứng khoán. Thực tế rằng từ năm 2017 đến nay, chưa có thêm doanh nghiệp FDI nào niêm yết”, ông Thông nói.

Ông Hoàng Văn Thu - Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cũng cho biết, tính đến cuối năm 2025, tổng vốn điều lệ của 10 doanh nghiệp FDI đang hiện diện trên thị trường khoảng 12.000 tỷ đồng, tổng tài sản khoảng 44.000 tỷ đồng, chỉ chiếm khoảng 0,15% tổng tài sản của toàn thị trường.
Trong khi đó, quy mô dòng vốn FDI vào Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng. Năm 2025, tổng vốn FDI đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần đạt hơn 38,4 tỷ USD, trong khi vốn thực hiện đạt 27,6 tỷ USD. Tám tháng đầu năm 2026, tổng vốn FDI đăng ký đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ năm 2025; vốn thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% và là mức cao nhất của cùng kỳ trong 5 năm qua. Đáng chú ý, vốn đăng ký mới tăng 96,8%, còn giá trị góp vốn, mua cổ phần tăng 50,1%.
Đáng nói, khoảng trống này không xuất phát từ việc doanh nghiệp FDI không được phép tiếp cận thị trường.
“Các điều kiện tham gia thị trường vốn, thị trường chứng khoán của doanh nghiệp trong nước thế nào thì các doanh nghiệp FDI hoàn toàn có quyền tiếp cận như vậy”, ông Hoàng Văn Thu nói.
Theo Phó Chủ tịch UBCKNN, cơ quan quản lý đã có chính sách tháo gỡ đối với những trường hợp doanh nghiệp FDI không còn các ràng buộc, cam kết với chính quyền địa phương. Các doanh nghiệp đáp ứng điều kiện theo quy định đều có quyền tiếp cận thị trường chứng khoán.
Quan điểm này cũng được thể hiện trong định hướng mới về khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tại Nghị quyết 10 ngày 8/6/2026, Bộ Chính trị xác định, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, đồng thời định hướng chuyển từ tư duy thu hút FDI đơn thuần về lượng sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và tính chiến lược của dòng vốn.
Theo ông Hoàng Văn Thu, khu vực FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng thị trường. Nhà nước định hướng khuyến khích khu vực này phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác.
Nói cách khác, cửa thị trường vốn không đóng với doanh nghiệp FDI. Vấn đề là sau nhiều năm hiện diện và mở rộng quy mô sản xuất tại Việt Nam, rất ít doanh nghiệp trong số này lựa chọn thị trường chứng khoán như một kênh huy động vốn và một phần trong chiến lược phát triển dài hạn.

Những “món hàng” tiềm năng trên “kệ” đón dòng vốn quốc tế
Câu chuyện này càng đáng chú ý khi thị trường vốn Việt Nam đang đứng trước yêu cầu mở rộng mạnh hơn về quy mô, chiều sâu và khả năng huy động nguồn lực, còn thị trường chứng khoán đã chuyển “trạng thái” từ nhóm cận biên sang nhóm mới nổi.
Phó Chủ tịch UBCKNN Hoàng Văn Thu cho hay, năm 2025, vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt gần 9,97 triệu tỷ đồng, tương đương 77,6% GDP. Đến cuối tháng 8/2026, vốn hóa đã vượt 10,6 triệu tỷ đồng. Cùng với quy mô, khả năng huy động vốn qua thị trường cũng đang được cải thiện.
Tuy nhiên, nhu cầu vốn cho giai đoạn phát triển tiếp theo còn lớn hơn nhiều. Theo tính toán của Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong giai đoạn 2026-2030 cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương bình quân 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, gấp hơn 2 lần giai đoạn 2021-2025.
Trong bối cảnh đó, thị trường vốn không thể chỉ đóng vai trò cung ứng vốn một cách thụ động mà cần trở thành một cấu phần có khả năng phân bổ hiệu quả nguồn lực xã hội, giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và cung cấp thêm nguồn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế.

Ở góc độ này, sự tham gia của doanh nghiệp FDI có thể giải quyết đồng thời hai bài toán. Một mặt, thị trường có thêm nguồn cung cổ phiếu từ những doanh nghiệp đang hoạt động thực chất tại Việt Nam, qua đó đa dạng hóa cơ cấu hàng hóa vốn hiện vẫn tập trung đáng kể ở một số nhóm ngành lớn.
Mặt khác, sự hiện diện của những doanh nghiệp FDI có quy mô lớn, quản trị theo chuẩn quốc tế và có hoạt động kinh doanh gắn với chuỗi giá trị toàn cầu có thể tạo thêm lựa chọn cho dòng vốn quốc tế đang tìm kiếm cơ hội tại Việt Nam.
Định hướng cải cách thị trường tài chính cũng đặt mục tiêu phát triển thị trường vốn cân bằng hơn về cơ cấu, tăng quy mô và độ sâu, đồng thời huy động tối đa nguồn lực từ khu vực tư nhân, khu vực FDI và các tổ chức tài chính quốc tế cho đầu tư phát triển. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ có thêm dòng tiền, mà còn phải có thêm hàng hóa chất lượng để hấp thụ dòng tiền.
Trong bài toán đó, doanh nghiệp FDI có thể trở thành một nguồn cung đáng kể cho thị trường vốn. Thay vì chỉ là nguồn vốn chảy vào nền kinh tế thông qua các dự án đầu tư trực tiếp, khu vực FDI còn có thể đóng góp trực tiếp cho thị trường vốn thông qua cổ phiếu, trái phiếu và các hoạt động huy động vốn trên thị trường chứng khoán.
Cơ hội này càng rõ hơn khi Việt Nam đang cải thiện khả năng tiếp cận của nhà đầu tư quốc tế. FTSE Russell đã công bố nâng hạng Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp, dự kiến có hiệu lực từ ngày 21/9/2026. Cùng với đó, quy định cho phép nhà đầu tư tổ chức nước ngoài giao dịch mà không phải ký quỹ trước 100% tiền mua chứng khoán và việc đưa hệ thống giao dịch mới vào vận hành đang tạo thêm thuận lợi cho dòng vốn quốc tế.
“Những cải cách về pháp lý, hạ tầng giao dịch mới và quá trình chuyển đổi từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi đang đưa một lớp nhà đầu tư quốc tế mới đến Việt Nam – những nhà đầu tư tìm kiếm các doanh nghiệp có chất lượng, quản trị tốt và hoạt động kinh doanh thực chất”, ông Nguyễn Đức Thông nói.
Ông Thomas Nguyễn, lãnh đạo mảng Ngân hàng đầu tư, Bán hàng và Giao dịch tổ chức tại SSI, ví von, Việt Nam đã và đang cải thiện “cánh cửa” để dòng vốn quốc tế bước vào thị trường, nhưng trên các “kệ hàng” cũng cần có thêm sản phẩm để dòng tiền tìm đến.
“Thứ mà chúng ta thực sự cần xét đến cùng là có thêm nhiều sản phẩm, nhiều cổ phiếu hơn. Đó là lý do tại sao câu chuyện FDI lại quan trọng đến thế”, ông Thomas Nguyễn nói.