•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•

Chỉ 9,3% doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) tại Việt Nam có thể tiếp cận vốn ngân hàng, thấp hơn đáng kể so với mức 56,1% ở doanh nghiệp lớn. Nguyên nhân được nêu trong bài viết là khoảng 70% SMEs nằm trong nhóm rủi ro tín dụng trung bình đến cao, khiến ngân hàng phải chịu chi phí phục vụ trên mỗi đơn vị vốn lớn hơn. Để bù đắp rủi ro và chi phí, ngân hàng thường tăng lãi suất, phí hoặc yêu cầu tài sản bảo đảm cao hơn, từ đó làm khó thêm khả năng vay vốn của SMEs.
Bài viết nhấn mạnh rằng, dù khu vực tư nhân và SMEs được xác định là động lực tăng trưởng then chốt theo Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị, SMEs vẫn chịu thiệt thòi trong tiếp cận vốn. Trong bối cảnh nền kinh tế biến động, sức khỏe tài chính của SMEs dễ bị ảnh hưởng và rủi ro kinh doanh tăng lên. Môi trường kinh doanh bất ổn cũng có thể làm gia tăng các rào cản vốn đã tồn tại dai dẳng nhiều thập kỷ.
Theo Báo cáo triển vọng tín dụng SMEs năm 2025 do Fiingroup công bố, SMEs chiếm khoảng 95% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam nhưng đóng góp trực tiếp dưới 20% doanh thu và dưới 10% tổng kim ngạch nhập khẩu - xuất khẩu. Một nguyên nhân cốt lõi được nêu là khả năng tiếp cận vốn còn rất thấp: chỉ khoảng 9,3% SMEs có thể vay vốn từ ngân hàng, trong khi tỷ lệ này ở doanh nghiệp lớn lên tới 56,1%.
Báo cáo cũng cho thấy sự chênh lệch về rủi ro tín dụng: khoảng 60% doanh nghiệp lớn nằm trong nhóm rủi ro tín dụng thấp, trong khi hơn 70% SMEs rơi vào các nhóm rủi ro trung bình đến cao. Điều này dẫn đến việc ngân hàng thận trọng hơn khi cho vay đối với SMEs so với doanh nghiệp lớn.
Bài viết dẫn Báo cáo năm 2024 của Ngân hàng Thế giới (World Bank) với tiêu đề Boosting SMEs Finance for Growth, ước tính khoảng trống tài chính của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa tại các nền kinh tế đang phát triển lên tới khoảng 19% GDP, tương đương khoảng 5,7 nghìn tỷ USD. Nguyên nhân chính được nêu gồm bất cân xứng thông tin và chi phí giao dịch cao.
Bất cân xứng thông tin xảy ra khi bên đi vay biết nhiều hơn về doanh nghiệp của mình so với bên cho vay. Đối với SMEs tại Việt Nam, khoảng cách thông tin được cho là đặc biệt lớn do báo cáo tài chính chưa được chuẩn hóa, chưa được kiểm toán, thậm chí cơ quan thuế từng cảnh báo về việc tồn tại hai sổ sách kế toán. Khi ngân hàng không thể xác định dòng tiền, mức độ ổn định hay rủi ro thực tế, họ thường chọn các phương án an toàn như từ chối cho vay, yêu cầu tài sản bảo đảm cao hơn và lãi suất cao hơn.
Chi phí giao dịch cao cũng được xem là rào cản do quy mô giao dịch nhỏ hơn, khiến việc xử lý khoản vay trở nên kém hiệu quả về mặt kinh tế.
Một giám đốc ngân hàng thuộc nhóm Big4 được trích dẫn cho biết việc xử lý một khoản vay 1 tỷ đồng cho SMEs có thể đòi hỏi gần như cùng lượng nhân sự và thời gian như một khoản vay 100 tỷ đồng cho doanh nghiệp lớn. Quy trình ra quyết định cho vay được mô tả gồm: thu thập hồ sơ, thẩm định báo cáo tài chính, đánh giá dòng tiền, kiểm tra tài sản bảo đảm, phê duyệt tín dụng, giải ngân, giám sát sau vay và xử lý rủi ro.
Khi chi phí xử lý được phân bổ theo từng khoản vay, các khoản cho vay nhỏ trở nên kinh tế không hấp dẫn, làm giảm lợi nhuận trên mỗi giờ thẩm định hoặc mỗi hồ sơ tín dụng của SMEs.
Các nhà phân tích cho rằng việc mở rộng tín dụng bằng cách “bơm thêm vốn” đơn thuần không giải quyết được khoảng trống tài chính đối với SMEs. World Bank cũng cảnh báo rằng việc cung cấp nguồn vốn ưu đãi “với điều kiện tốt hơn thị trường” cho SMEs có thể “làm suy yếu vai trò của các tổ chức tài chính tư nhân và kìm hãm sự phát triển của thị trường tài chính trong dài hạn.”
Do đó, chính sách được đề xuất cần dịch chuyển từ mở rộng tín dụng sang nâng cao các điều kiện nền tảng của thị trường tài chính. Trong đó, ưu tiên then chốt là phát triển hạ tầng thông tin tín dụng nhằm giảm bất cân xứng thông tin. Việc thu thập, chia sẻ và chuẩn hóa dữ liệu tín dụng được kỳ vọng giúp các tổ chức tài chính định giá rủi ro tốt hơn thay vì né tránh rủi ro.
Trên nền tảng dữ liệu, ngân hàng số được nêu như một công cụ quan trọng để khai thác và vận hành hệ thống dữ liệu. Trong bối cảnh chi phí giao dịch cao là rào cản cốt lõi, số hóa quy trình và ứng dụng dữ liệu được cho là giúp ngân hàng giảm chi phí thẩm định và mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng đối với SMEs. Thông qua tự động hóa quy trình, số hóa hồ sơ và chấm điểm tín dụng dựa trên dữ liệu, ngân hàng có thể giảm chi phí thẩm định và quản lý các khoản vay nhỏ lẻ vốn trước đây không hiệu quả về mặt kinh tế. Theo bài viết, điều này có thể giúp ngân hàng chuyển từ mô hình “chọn lọc khách hàng an toàn” sang “mở rộng phục vụ với chi phí thấp hơn”.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến nhấn mạnh chuyển đổi số chỉ giải quyết phần “bề mặt” nếu không đi kèm nền tảng dữ liệu chất lượng. Điểm nghẽn thực sự được cho là khả năng đánh giá rủi ro của SMEs phụ thuộc vào dữ liệu đầu vào. Nếu dữ liệu không phản ánh đúng thực trạng doanh nghiệp, không được chuẩn hóa hoặc không được cập nhật kịp thời, số hóa có thể chỉ làm quy trình nhanh hơn nhưng không cải thiện độ chính xác quyết định tín dụng, từ đó rủi ro mô hình có thể gia tăng và ngân hàng quay lại cách tiếp cận thận trọng.
Ông NGUYỄN VĂN NAM, Giám đốc Khối Thông tin doanh nghiệp tại Fiingroup, cho biết: “Trong bối cảnh tuổi thọ trung bình của SMEs khoảng tám năm, các ngân hàng thích các doanh nghiệp hoạt động ít nhất năm năm. Đây là nhóm có nền tảng quản trị và dòng tiền ổn định hơn. Khoảng 65% SMEs hoạt động trên 5 năm. Tuy nhiên trong nhóm chưa tiếp cận vốn, vẫn có tới 40% doanh nghiệp đã hoạt động trên 5 năm và có mức rủi ro từ trung bình đến thấp, đây được xem là một phân khúc khách hàng tiềm năng mà các ngân hàng có thể hướng tới.”
Bài viết nêu rằng nội dung đầy đủ được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18+19-2026 phát hành ngày 09/05/2026. Phần thảo luận bao gồm cải tiến trên cơ sở dữ liệu cho vay và cải cách bảo lãnh tín dụng cho SMEs, đồng thời đề cập khả năng điều chỉnh chỉ tiêu tín dụng nếu rủi ro gia tăng và thậm chí tạm dừng cấp tín dụng mới cho lĩnh vực bất động sản.
Vào chiều 11/5/2026, lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đã thị sát công trường cầu đi bộ qua sông Sài Gòn và chứng kiến mẻ bê tông đầu tiên cho bệ trụ chính TC2, đánh dấu dự án bước vào giai đoạn thi công kết cấu trọng yếu. Quy…