•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•

Thông qua Dự án Quảng trường Trung tâm và Trung tâm Hành chính thành phố, các đại biểu tại TP.Hồ Chí Minh đã xem xét và quyết định chủ trương đầu tư cho dự án Quảng trường Trung tâm thành phố và Trung tâm hành chính TP.Hồ Chí Minh với tổng vốn đầu tư gần 29.600 tỷ đồng. Dự án được thực hiện theo hình thức đối tác công tư (PPP), gồm hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT). Khu đất sử dụng cho dự án có diện tích 46,7 ha, triển khai trong giai đoạn 2026–2028 và được chia thành 4 dự án thành phần.
Dự án thành phần 1 tập trung xây dựng hạ tầng kỹ thuật, công trình phụ trợ và hầm xe khu công viên. Tổng vốn đầu tư ước tính trên 3.500 tỷ đồng. Dự án có thể đáp ứng từ 1.000 – 3.000 lượt khách/ngày và sử dụng khoảng 1.000 lao động.
Dự án thành phần 2 là Trung tâm hành chính TP, với tổng vốn đầu tư gần 18.500 tỷ đồng. Trung tâm đáp ứng nhu cầu làm việc của khoảng 6.000 – 8.000 cán bộ, công chức, viên chức; đồng thời phục vụ từ 1.500 – 2.000 lượt công dân và đại diện doanh nghiệp mỗi ngày.
Dự án thành phần 3 là Trung tâm Hội nghị – Biểu diễn, quy mô 2.000 chỗ ngồi, tổng vốn đầu tư 6.856 tỷ đồng.
Dự án thành phần 4 là Quảng trường trung tâm thành phố. Quảng trường có sức chứa khoảng 268.000 người đối với các sự kiện chính trị và khoảng 500.000 người đối với các lễ hội văn hóa. Tổng vốn đầu tư hơn 733 tỷ đồng.
Theo UBND TP.Hồ Chí Minh, việc triển khai các dự án theo hình thức đầu tư công sẽ tạo áp lực lớn lên ngân sách nhà nước do nhu cầu đầu tư cho giai đoạn 2026–2030 ở mức cao trong khi khả năng phân bổ ngân sách còn hạn chế. Dù đây là công trình công cung cấp dịch vụ hành chính – công cho lợi ích quốc gia và cộng đồng, nhưng không có khả năng hoàn vốn. Tiến độ đầu tư công thường chậm, làm tăng chi phí xã hội và chi phí cơ hội.
UBND TP cũng cho rằng đầu tư công chưa phải là lựa chọn tối ưu khi khu vực tư nhân có thể tham gia đầu tư. Với các dự án mà tư nhân tham gia được, tiếp tục sử dụng đầu tư công có thể làm giảm hiệu quả huy động nguồn lực xã hội.
Vì vậy, áp dụng PPP cho dự án được đánh giá là phù hợp nhằm giảm áp lực ngân sách và tận dụng nguồn lực từ khu vực ngoài nhà nước. Đồng thời, PPP giúp tận dụng công nghệ, năng lực quản lý và kinh nghiệm của khu vực tư nhân để nâng cao chất lượng công trình.
Tại kỳ họp, Phó Chủ tịch UBND TP Nguyễn Công Vinh đã trình bày tờ trình về danh mục 33 khu đất dự kiến thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện các dự án BT trên địa bàn. Danh mục gồm 33 khu đất, trong đó 17 khu được quản lý bởi Trung tâm Phát triển quỹ đất TP.Hồ Chí Minh và phần còn lại do chính quyền địa phương quản lý.
Trong tờ trình, UBND TP nêu một số khu đất bỏ trống như: số 8–12 Lê Duẩn; 2–3–4 Hai Bà Trưng; 10 Hàm Nghi; 33 Nguyễn Du; 34–36–42 Chu Mạnh Trinh (phường Sài Gòn); 200 Võ Văn Tần (phường Bàn Cờ); 152 Trần Phú (phường Chợ Quán); 120 Trần Hưng Đạo (phường Bến Thành); 420 Nơ Trang Long (phường Bình Lợi Trung); 129 Đinh Tiên Hoàng (phường Gia Định); 602 Võ Văn Kiệt (phường Cầu Kho); 123 Nguyễn Khoái (phường Vĩnh Hội); 462–464 Nguyễn Thị Minh Khai…
Tờ trình cũng cho biết UBND TP.Hồ Chí Minh cho rằng HĐND Thành phố đã thông qua chủ trương đầu tư đối với 3 dự án lớn (cầu Cần Giờ, cầu Phú Mỹ 2, Khu liên hợp thể dục thể thao quốc gia Rạch Chiếc) theo hình thức PPP và BT với tổng mức đầu tư trên 182.000 tỷ đồng.
Hiện nay, một số nhà đầu tư đề xuất triển khai các dự án như: tuyến đường sắt đô thị số 2 từ Bến Thành đến Thủ Thiêm và Thủ Thiêm – Long Thành; đường và cầu nối Cần Giờ – Vũng Tàu; đường cao tốc Hồ Tràm – Long Thành; các nhà máy xử lý nước thải Tây Sài Gòn, Bắc Sài Gòn 1 và 2; Quảng trường trung tâm và Trung tâm hành chính mới; Công viên Văn hóa Bến Nhà Rồng – Khánh Hội và hệ thống cây xanh ven sông Sài Gòn.
Các dự án dự kiến áp dụng hình thức đối tác công tư (PPP) và BT với tổng vốn đầu tư trên 366.000 tỷ đồng.
UBND TP.Hồ Chí Minh nhận định nhu cầu vốn cho các dự án rất lớn, tập trung trong một giai đoạn, trong khi khả năng cân đối ngân sách còn hạn chế. Do đó, cần cơ chế huy động và sử dụng nguồn lực linh hoạt, hiệu quả hơn.
Một số công trình hạ tầng cấp bách được định hướng triển khai theo hợp đồng BT nhằm xử lý các vấn đề về môi trường, nước thải, ngập úng và ùn tắc giao thông, với tổng mức đầu tư lớn và yêu cầu nguồn lực đối ứng tương xứng.
Vì vậy, danh mục đất thanh toán không chỉ bảo đảm về quy mô mà còn cần các khu đất có giá trị thương mại và tiềm năng khai thác cao, nhằm thu hút nhà đầu tư có năng lực. Đồng thời, việc lựa chọn quỹ đất hướng tới bảo đảm thanh toán bằng giá trị công trình và hạn chế nghĩa vụ ngân sách.