•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•

Trong bối cảnh chủ trương đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn, số lượng doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có thể giảm mạnh, nhưng các DNNN vẫn nắm giữ khối lượng lớn nguồn lực về vốn, tài sản, công nghệ và nhân lực chất lượng cao, đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước.
Hiện nay, các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước duy trì nắm giữ khoảng 7% tổng tài sản và 10% vốn chủ sở hữu của toàn bộ doanh nghiệp trên thị trường. Nhóm này cũng chiếm khoảng 25,78% tổng vốn sản xuất, kinh doanh; 23,4% giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn. Về lao động, các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thu hút khoảng 0,7 triệu lao động, chiếm 7,3% lao động của toàn bộ khu vực doanh nghiệp.
Tại Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, định hướng được nêu rõ là đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; nâng cao hiệu quả hoạt động; áp dụng công nghệ tiên tiến và mô hình quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế. Đồng thời, tập trung xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty và DNNN lớn, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt, tạo động lực thúc đẩy các ngành, lĩnh vực then chốt và chiến lược, có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Theo nội dung được nêu, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân giai đoạn ở mức cao “hai con số”. Điều này kéo theo yêu cầu cao về giao chỉ tiêu sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp nhà nước.
Trong bối cảnh đó, việc huy động nguồn lực cho đầu tư được đánh giá là rất lớn. Theo báo cáo của Bộ Tài chính gửi Quốc hội, nguồn lực đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương 40% GDP, tăng 1,7 lần so với giai đoạn 2021-2025. Trong đó, khoảng 80% cần huy động ngoài ngân sách.
Mặc dù hệ thống pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp đã có nhiều quy định mới, góp phần tháo gỡ vướng mắc liên quan đến đầu tư vốn nhà nước cho doanh nghiệp, nhưng để đạt mục tiêu tăng trưởng “hai con số” không chỉ dựa vào vốn của Nhà nước. Nội dung nhấn mạnh cần huy động nhiều nguồn lực khác, trong đó huy động vốn qua thị trường chứng khoán được xem là một kênh quan trọng.
Đặc biệt, đối với doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá, là công ty đại chúng, đang niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán, việc tiếp cận thị trường vốn có thể hỗ trợ cho nhu cầu đầu tư phát triển. Đồng thời, niêm yết và đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán được cho là sẽ thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế và chuẩn mực quản trị doanh nghiệp theo hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Trong nỗ lực chung về phát triển thị trường chứng khoán và phát triển doanh nghiệp nhà nước, nội dung nêu rằng cần tạo điều kiện tối đa cho hoạt động huy động vốn cho đầu tư phát triển, đồng thời nâng cao chất lượng hàng hoá, đảm bảo công khai, minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp và của thị trường.
Theo đó, việc hỗ trợ các DNNN tuân thủ quy định của pháp luật về chứng khoán và pháp luật về quản lý, đầu tư vốn nhà nước, đồng thời nắm bắt cơ hội để huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, được đánh giá là cần thiết và có ý nghĩa.
Trong bối cảnh chủ trương đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn, số lượng doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có thể giảm mạnh, nhưng các DNNN vẫn nắm giữ khối lượng lớn nguồn lực về vốn, tài sản, công nghệ và nhân lực chất lượng cao, đóng góp đáng kể…