Sân bay Chu Lai được định hướng đạt công suất 30 triệu hành khách mỗi năm vào năm 2050, gắn với phát triển công nghiệp, logistics và đô thị sân bay tại miền Trung.
Đề xuất giao Đà Nẵng thực hiện dự án sân bay Chu Lai
Sở Xây dựng TP. Đà Nẵng vừa có văn bản gửi Bộ Xây dựng, góp ý hồ sơ Quy hoạch chi tiết Cảng hàng không Chu Lai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, cơ quan này đề nghị xem xét báo cáo Thủ tướng Chính phủ giao UBND TP. Đà Nẵng làm cơ quan có thẩm quyền thực hiện dự án đầu tư, khai thác sân bay Chu Lai và hệ sinh thái kinh tế, đô thị sân bay theo phương thức đối tác công tư (PPP).

Đề xuất trên kế thừa kiến nghị của UBND tỉnh Quảng Nam tại Tờ trình số 1855/TTr-UBND ngày 10/3/2025. Sở Xây dựng TP. Đà Nẵng cũng kiến nghị sớm hoàn thành công tác thẩm định, phê duyệt quy hoạch, tạo cơ sở thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư và huy động nguồn vốn.
Theo định hướng quy hoạch, sân bay quốc tế Đà Nẵng tiếp tục đảm nhận vai trò cửa ngõ hàng không phía Bắc, phục vụ nhu cầu đi lại, du lịch, dịch vụ và tài chính. Trong khi đó, sân bay Chu Lai được xác định là đầu mối hàng không phía Nam, gắn với Khu kinh tế mở Chu Lai và cụm Chu Lai - Tam Kỳ - Núi Thành, hướng đến phục vụ công nghiệp, logistics, khoa học và công nghệ.
Việc phân định chức năng nhằm tạo sự bổ trợ giữa hai sân bay, đồng thời tăng khả năng kết nối các hoạt động kinh tế trên địa bàn Đà Nẵng và khu vực lân cận. Với Chu Lai, mục tiêu không chỉ là phục vụ hành khách mà còn mở rộng vai trò trong vận chuyển hàng hóa, hỗ trợ sản xuất và cung ứng dịch vụ hậu cần.
Để đạt được mục tiêu này, Sở Xây dựng đề nghị làm rõ phương án kết nối sân bay Chu Lai với tuyến đường tốc độ cao từ trung tâm Đà Nẵng, hệ thống đường cao tốc, đường sắt tốc độ cao và các cảng biển lân cận. Quy hoạch cũng cần tính toán hành lang đường sắt đô thị, vị trí tiếp cận nhà ga và quỹ đất dành cho các công trình trung chuyển.
Khả năng kết nối với các khu dân cư, khu công nghiệp, cảng biển và mạng lưới giao thông liên vùng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả khai thác sân bay. Vì vậy, việc phát triển hạ tầng hàng không cần được xem xét đồng bộ với các công trình giao thông và không gian kinh tế xung quanh.
Quy hoạch sân bay 30 triệu khách, tổng vốn hơn 81.600 tỷ đồng
Theo hồ sơ quy hoạch, Cảng hàng không Chu Lai là sân bay dùng chung dân dụng và quốc phòng, cấp 4F. Trong giai đoạn 2021-2030, công suất được quy hoạch đạt 5 triệu hành khách mỗi năm, với khoảng 25 vị trí đỗ tàu bay. Sân bay có khả năng khai thác các dòng máy bay B777, B787, A321, A350 và tương đương.
Đến năm 2050, công suất dự kiến tăng lên 30 triệu hành khách mỗi năm, số vị trí đỗ đạt khoảng 68. Sân bay được định hướng khai thác các loại tàu bay code E/F, trong đó có A380. Công suất thiết kế của nhà ga hàng hóa dự kiến đạt 1,5 triệu tấn mỗi năm.
Để đáp ứng nhu cầu khai thác theo từng giai đoạn, quy hoạch đến năm 2030 giữ lại đường cất hạ cánh 14R/32L hiện hữu và xây dựng thêm đường 14L/32R dài 4.000m, rộng 45m. Trong giai đoạn đến năm 2050, dự kiến xây dựng đường cất hạ cánh 14R/32L mới dài 3.800m, rộng 45m.
Đối với hệ thống nhà ga, nhà ga T2 được định hướng xây dựng ở phía Bắc sân bay, nằm giữa hai đường cất hạ cánh. Công trình có công suất ban đầu 5 triệu hành khách mỗi năm và dự kiến mở rộng lên 30 triệu hành khách vào năm 2050. Nhà ga T1 hiện hữu dự kiến được phá dỡ để dành diện tích xây dựng sân đỗ tàu bay.
Theo thuyết minh quy hoạch, sơ bộ tổng mức đầu tư đến năm 2050 khoảng 81.611,85 tỷ đồng. Trong đó, nhu cầu vốn đến năm 2030 khoảng 20.656 tỷ đồng, còn giai đoạn tiếp theo đến năm 2050 cần khoảng 60.955 tỷ đồng.
Bên cạnh các hạng mục hàng không, định hướng phát triển Chu Lai còn gắn với mô hình đô thị sân bay (aerotropolis), trong đó các hoạt động logistics, sản xuất, thương mại và dịch vụ được bố trí kết nối với sân bay. Mô hình này hướng đến khai thác hạ tầng hàng không như một phần của hệ sinh thái kinh tế, thay vì chỉ phục vụ vận chuyển hành khách.
Nhờ vị trí gắn với Khu kinh tế mở Chu Lai, cụm Chu Lai - Tam Kỳ - Núi Thành và hệ thống cảng biển khu vực, sân bay có thể tạo thêm phương án vận chuyển cho doanh nghiệp, nhất là những ngành cần kết nối với thị trường quốc tế. Tuy nhiên, khả năng phát triển thành trung tâm logistics quy mô lớn còn phụ thuộc vào tiến độ đầu tư, chất lượng hạ tầng kết nối và nhu cầu khai thác thực tế.
Việc rà soát quy hoạch cũng diễn ra trong bối cảnh không gian phát triển của Đà Nẵng thay đổi sau sắp xếp đơn vị hành chính. Quá trình này đòi hỏi địa phương tính toán đồng bộ các hành lang công nghiệp, dịch vụ và kinh tế ven biển, đồng thời xem xét những vấn đề liên quan đến đất quốc phòng, việc bố trí lại công trình tại sân bay quốc tế Đà Nẵng và định hướng chung của mạng lưới hàng không.
Hiện các đề xuất về cơ quan có thẩm quyền thực hiện dự án và phương án mở rộng sân bay Chu Lai vẫn cần được thẩm định, phê duyệt và triển khai các thủ tục chuẩn bị đầu tư theo quy định.
Nếu được thực hiện đồng bộ, hai sân bay có thể đảm nhiệm những chức năng bổ trợ trong mạng lưới hàng không của Đà Nẵng: sân bay quốc tế Đà Nẵng tập trung phục vụ đô thị, du lịch và dịch vụ, trong khi Chu Lai gắn với công nghiệp, logistics và chuỗi cung ứng. Qua đó, dự án được kỳ vọng mở rộng không gian phát triển kinh tế và tăng cường liên kết giữa Đà Nẵng với các địa phương miền Trung.