Giá sầu riêng ngày 08/11 ghi nhận diễn biến trái chiều tại các vùng trồng trọng điểm. Trong khi sầu Thái tại Đắk Lắk giảm 4.000 đồng/kg, Gia Lai vẫn duy trì mức thu mua 95.000 đồng/kg đối với sầu Thái loại A, cao nhất trong nhóm địa phương được khảo sát.

Giá sầu riêng Tây Nam Bộ phân hóa giữa sầu Thái và Ri6
Tại khu vực Tây Nam Bộ, giá sầu riêng ngày 08/11 có sự khác biệt giữa hai chủng loại chủ lực là sầu Thái và Ri6. Sầu Thái loại A được thu mua trong khoảng 80.000–95.000 đồng/kg, loại B dao động 60.000–75.000 đồng/kg, còn loại C chưa có mức giá cố định và được thương lượng theo từng lô hàng.
Đối với hàng không đạt tiêu chuẩn tuyển chọn, sầu Thái lỗi có giá khoảng 78.000 đồng/kg, hàng dạt ở mức 27.000 đồng/kg và hàng kém khoảng 13.000 đồng/kg.
Trong khi đó, sầu riêng Ri6 loại A được thu mua từ 65.000–70.000 đồng/kg, loại B dao động 50.000–55.000 đồng/kg và loại C khoảng 35.000 đồng/kg.
Giá sầu riêng Tây Nguyên giảm tại Đắk Lắk, Gia Lai tiếp tục dẫn đầu
Tại Đắk Lắk, giá sầu Thái loại A giảm 4.000 đồng/kg so với ngày trước, xuống còn 94.000 đồng/kg. Loại B được thu mua trong khoảng 73.000–78.000 đồng/kg, còn loại C tiếp tục được thương lượng tùy chất lượng trái và điều kiện giao dịch.
Với nhóm hàng phân loại thấp hơn, sầu Thái hàng lỗi có giá 63.000–75.000 đồng/kg, hàng dạt dao động 33.000–34.000 đồng/kg và hàng kém khoảng 20.000 đồng/kg. Ri6 loại A được thu mua khoảng 35.000 đồng/kg, loại B ở mức 25.000 đồng/kg.
Tại Gia Lai, sầu Thái loại A đạt 95.000 đồng/kg, tiếp tục là mức cao nhất trong nhóm địa phương được khảo sát. Loại B dao động 71.000–75.000 đồng/kg, còn loại C được thương lượng. Sầu Thái hàng lỗi có giá khoảng 80.000 đồng/kg. Đối với Ri6, loại A được thu mua khoảng 35.000 đồng/kg và loại B ở mức 20.000 đồng/kg.
Ở Lâm Đồng, sầu Thái loại A được giao dịch khoảng 76.000 đồng/kg, loại B đạt 68.000 đồng/kg, còn loại C chưa có giá cố định. Sầu Thái hàng lỗi loại A có giá khoảng 73.000 đồng/kg; hàng dạt ở mức 34.000 đồng/kg và hàng kém khoảng 18.000 đồng/kg.
Ngoài sầu Thái, các giống sầu riêng đặc sản tại Lâm Đồng tiếp tục có mức thu mua cao. Musang King loại A đạt khoảng 150.000 đồng/kg, loại B ở mức 130.000 đồng/kg. Black Thorn loại A được thu mua khoảng 155.000 đồng/kg, loại B đạt 135.000 đồng/kg. Với giống Chuồng Bò, giá loại A khoảng 70.000 đồng/kg và loại B khoảng 50.000 đồng/kg.
Nâng cao chất lượng và đa dạng thị trường xuất khẩu sầu riêng
Bên cạnh diễn biến giá thu mua, bài toán phát triển bền vững tiếp tục là vấn đề đáng chú ý đối với ngành sầu riêng Việt Nam. Theo số liệu được công bố, cả nước hiện có khoảng 200.000 ha sầu riêng, với sản lượng ước đạt 2,08 triệu tấn. Riêng Đắk Lắk có khoảng 41.000 ha, sản lượng năm 2026 dự kiến gần 500.000 tấn; trong đó khoảng 7.500 ha đã được cấp mã số vùng trồng.
Trong quý I/2026, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 221,7 triệu USD, tăng 230% so với cùng kỳ năm trước, với khối lượng hơn 80.000 tấn. Trong tổng lượng hàng xuất khẩu, sầu riêng tươi đạt 68.500 tấn, còn sầu riêng đông lạnh đạt gần 11.600 tấn. Một số thị trường ghi nhận mức tăng đáng chú ý gồm Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Australia và Nhật Bản.
Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu vẫn chịu ảnh hưởng từ yêu cầu kiểm dịch, an toàn thực phẩm và biến động nguồn cung trong khu vực. Trung Quốc hiện vẫn là thị trường chủ lực, chiếm hơn 90% lượng sầu riêng tươi xuất khẩu của Việt Nam. Điều này khiến việc đáp ứng tiêu chuẩn nhập khẩu và duy trì chất lượng sản phẩm trở thành yêu cầu quan trọng đối với các vùng trồng.
Về lâu dài, ngành hàng cần tăng cường liên kết giữa nông dân, thương lái, doanh nghiệp và cơ sở chế biến; đồng thời đầu tư vào kho lạnh, logistics và chế biến sâu. Việc kiểm soát vật tư đầu vào, truy xuất nguồn gốc, nhật ký canh tác và dư lượng cũng cần được thực hiện đồng bộ để nâng chất lượng, giảm rủi ro trong quá trình xuất khẩu.