Hôm nay, 1/4, Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) và Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) chính thức có hiệu lực, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển thị trường khoa học và công nghệ. Ảnh minh hoạ. Trong đó, Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ nội sinh; khơi thông dòng chảy công nghệ giữa doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước và giữa cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu với doanh nghiệp. Đáng chú ý, Luật đã có những điểm mới mang tính đột phá về cải cách thủ tục hành chính trong thẩm định, chấp thuận và cấp phép chuyển giao công nghệ theo hướng giảm gánh nặng cho nhà đầu tư; đẩy mạnh số hóa trong quản lý, giám sát và công khai thông tin về chuyển giao công nghệ. Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) mở rộng cơ chế góp vốn bằng công nghệ. Theo đó, tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hợp pháp công nghệ được góp vốn vào dự án đầu tư hoặc doanh nghiệp và được thương mại hóa theo quy định của pháp luật có liên quan. Một điểm mới quan trọng được đưa ra trong Luật là mở rộng cơ chế góp vốn bằng công nghệ. Theo đó, tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hợp pháp công nghệ được góp vốn vào dự án đầu tư hoặc doanh nghiệp và được thương mại hóa theo quy định của pháp luật có liên quan. Đối với dự án sử dụng vốn nhà nước, công nghệ góp vốn phải được thẩm định giá và xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp trước khi thực hiện. Luật quy định Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp có dự án thuộc địa bàn, lĩnh vực ưu đãi đầu tư thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ với tổ chức khoa học và công nghệ; khuyến khích các hình thức hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ quan, tổ chức, cá nhân để triển khai các dự án đổi mới công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển hạ tầng khoa học và công nghệ. Nhà nước hỗ trợ thông qua Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, quỹ phát triển khoa học và công nghệ và các hình thức hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật. Đồng thời, bố trí ngân sách phát triển mạng lưới các tổ chức khoa học và công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp và các tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh và cá nhân ứng dụng công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh. Trong khi đó, Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) tập trung vào cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ, bổ sung cơ chế bảo hộ đối tượng mới, xử lý các vấn đề phát sinh và nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Đáng chú ý, về quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ, Luật quy định chủ sở hữu có trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ trong trường hợp quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán. Nhà nước khuyến khích khai thác quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp vay vốn theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, tín dụng và các quy định pháp luật liên quan, qua đó mở rộng khả năng chuyển hóa tài sản trí tuệ thành nguồn lực phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng quyền này để thực hiện các hoạt động giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật có liên quan như pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định khác. Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, tư tưởng chính của lần sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ này là: Sở hữu trí tuệ phải biến kết quả nghiên cứu thành tài sản để có thể giao dịch; phải trở thành tài sản của doanh nghiệp, có thể định giá, mua bán, được hạch toán vào báo cáo tài chính và sử dụng làm tài sản bảo đảm để vay vốn, góp vốn, đặc biệt đối với tài sản công nghệ mới, công nghệ số, AI. Nhà nước khuyến khích khai thác quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp vay vốn theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, tín dụng và các quy định pháp luật liên quan, qua đó mở rộng khả năng chuyển hóa tài sản trí tuệ thành nguồn lực phát triển kinh tế. Đồng thời, Nhà nước bảo đảm kinh phí, các điều kiện về cơ sở hạ tầng, phương tiện, trang thiết bị và các nguồn lực cần thiết khác cho hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, bao gồm cả hoạt động trong khuôn khổ các ủy ban, tiểu ban, nhóm công tác theo các ước đã quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hợp tác quốc tế trong xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp; cũng như hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.