Cần thiết thiết lập các khu sandbox thử nghiệm đặc biệt không cần xin phép. Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng nêu rõ những việc cần làm ngay để phát triển công nghệ chiến lược. Hướng căn bản là chuyển từ tư duy dựa trên công nghệ sang giải quyết các bài toán quốc gia, đồng thời dùng thị trường, chuẩn hóa và cơ chế đặt hàng của nhà nước làm đòn bẩy. Chương trình Công nghệ Chiến lược: Nhà nước tạo thị trường đủ lớn cho các sản phẩm công nghệ chiến lược.
Nhà nước đặt mua với quy mô lớn để tạo nhu cầu, thiết lập cơ chế thử nghiệm nhanh cho công nghệ chiến lược, sau đó doanh nghiệp bỏ vốn nghiên cứu. Đây là cách hỗ trợ đầu ra và dùng thị trường để phát triển công nghệ chiến lược. Thứ nhất, công bố danh mục công nghệ chiến lược kèm theo sản phẩm công nghệ chiến lược và công nghệ lõi, phải phù hợp với nhu cầu phát triển và thế mạnh của đất nước. Danh mục phải xuất phát từ các bài toán lớn quốc gia chứ không từ công nghệ. Công thức đúng là từ bài toán quốc gia đến sản phẩm chiến lược rồi đến công nghệ. Chương trình công nghệ chiến lược quốc gia phải bao quát từ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm, sản xuất đến thị trường, chứ không rời rạc như trước đây.
Danh mục có thể chia thành ngắn hạn, trung hạn và dài hạn 1–3 năm, 3–5 năm, 5–10 năm. 70–80% ngân sách và nguồn lực dành cho loại 1 và 2, để vừa cho kết quả nhanh vừa xây dựng năng lực dài hạn. Danh mục đi kèm gồm danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược và danh mục công nghệ lõi, lộ trình làm chủ cho từng công nghệ. Sản phẩm phải kèm yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa, công nghệ lõi phải tự chủ. Các danh mục này là mục tiêu cụ thể của chương trình, nhằm hướng khoa học tới mục tiêu cuối cùng là công nghệ lõi, sản phẩm và thị trường. Doanh nghiệp tập trung vào sản phẩm công nghệ chiến lược, viện/trường vào công nghệ lõi. Thứ hai, ban hành bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn về công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và sản phẩm công nghệ chiến lược. Tiêu chuẩn phải đi trước (pre-standard) để định hướng phát triển, tạo lập thị trường và thúc đẩy thương mại hóa. Tiêu chuẩn giúp hình thành thị trường, là công cụ dẫn dắt công nghệ và là điều kiện để sản xuất hàng loạt. Công nghệ chiến lược thường mới và rủi ro cao, nên tiêu chuẩn giúp kiểm soát chất lượng và tạo niềm tin cho thị trường, đồng thời tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhà nước ban hành tiêu chuẩn và gắn với mua sắm công, đồng bộ với chính sách thị trường. Không có tiêu chuẩn sẽ không có thị trường cho công nghệ chiến lược. Thứ ba, tìm ra các cách triển khai công nghệ chiến lược mới có tính đột phá ngoài các cách truyền thống. Nhà nước tạo thị trường đủ lớn cho sản phẩm, đặt mua số lượng lớn, xây dựng chính sách để tạo nhu cầu trên thị trường, cơ chế thử nghiệm nhanh cho công nghệ chiến lược, sau đó doanh nghiệp bỏ vốn nghiên cứu.
Cách làm này cũng thu hút được vốn từ khu vực tư nhân, đóng góp vào mục tiêu 2% GDP cho nghiên cứu và phát triển trên toàn quốc, tức gấp năm lần con số 2% ngân sách nhà nước dành cho khoa học và công nghệ. Nhà nước chọn tổng thầu công nghệ cho các chương trình quốc gia và các dự án công nghệ lớn, phức tạp, dài hạn 5–10 năm hoặc lâu hơn, cấp ngân sách hoặc cam kết đầu ra. Có thể đổi mới bằng cách cấp một cục, gọi là block funding, vào quỹ khoa học công nghệ của các bộ/ngành từ đầu năm để họ chủ động phát triển công nghệ ứng dụng giải quyết bài toán ngành. Nhà nước là người mua đầu tiên, áp dụng với sản phẩm công nghệ chiến lược chưa có thị trường lớn, công nghệ phức tạp. Cần Nhà nước hỗ trợ nghiên cứu và sau đó là người mua đầu tiên. Nhà nước xác định sản phẩm hoặc bài toán công nghệ chiến lược và mời các doanh nghiệp/viện-trường-startup tham gia. Không chỉ định ai, chọn 3–5 nhóm làm sản phẩm mẫu, giữ lại 1–2 đội có sản phẩm mẫu tốt nhất để tiếp tục được tài trợ làm đến sản phẩm thương mại. Sản phẩm công nghệ chiến lược đòi hỏi môi trường thử nghiệm, sự phản hồi liên tục của người dùng và đồng sáng tạo của người dùng.
Sự tham gia tích cực và từ đầu của người dùng sẽ góp phần thành công. Vì vậy chương trình công nghệ chiến lược phải thiết kế có sự tham gia của người dùng từ đầu. Thứ tư, ban hành kế hoạch hành động và giao nhiệm vụ. Xác định từng sản phẩm công nghệ chiến lược, từng công nghệ lõi sẽ phát triển theo cách nào, giao ai, bao giờ xong, cùng nhu cầu thị trường, nhà nước là người mua đầu tiên và ngân sách liên quan. Thứ năm, xác định bộ tiêu chí đánh giá tác động của công nghệ chiến lược đối với kinh tế - xã hội và đánh giá hiệu quả của chương trình. Tiêu chí được thiết kế theo 4 tầng: Input - Output - Outcome - Impact. Chương trình CNCL phải được đánh giá dựa trên bộ tiêu chí phản ánh đầy đủ kết quả từ nghiên cứu đến thị trường, làm cơ sở cho việc phân bổ, điều chỉnh và giám sát nguồn lực. Một số việc cần làm ngay: Thứ nhất, đối với các sản phẩm công nghệ chiến lược đã đạt chuẩn, cần có ngay chương trình mua sắm của chính phủ và chính sách dùng hàng Việt Nam để tạo thị trường cho các sản phẩm này. Thứ hai, cho phép hình thành một số khu sandbox đặc biệt, tại đây các thử nghiệm không phải xin phép. Thứ ba, ở cấp bộ/ngành và địa phương, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo và giao cho các trung tâm này đặt hàng doanh nghiệp/viện trường giải quyết các bài toán lớn, góp phần tăng trưởng hai con số, chủ yếu nhờ chính quyền tạo thị trường và là người mua đầu tiên. Để tránh trùng lặp và phổ biến nhanh ra toàn quốc các giải pháp thành công, nhà nước thống nhất một nền tảng số dùng chung để quản lý các bài toán và giải pháp. Thứ tư, về phân bổ ngân sách khoa học và công nghệ: hiện nay các bộ/ngành vẫn phải đăng ký danh mục đề tài qua Bộ Khoa học và Công nghệ rồi qua Bộ Tài chính cấp tiền. Có ý kiến đổi mới bằng cách cấp một cục block funding vào quỹ khoa học công nghệ của các bộ/ngành từ đầu năm để họ chủ động phát triển công nghệ ứng dụng giải quyết các bài toán ngành. Bộ Khoa học và Công nghệ giữ nền tảng số quốc gia quản lý các đề tài để tránh trùng lặp, đánh giá hiệu quả và đảm bảo phù hợp chiến lược khoa học và công nghệ từng giai đoạn. Đây là xu thế toàn cầu, giảm thủ tục và tăng trách nhiệm các bộ/ngành. Nhà nước tạo ra việc lớn, bài toán quốc gia phải rõ mục tiêu quy mô người mua và mức độ tự chủ, tạo thị trường lớn và cơ chế tài chính thông thoáng, nhân sự linh hoạt, hạ tầng nghiên cứu hiện đại, phân chia lợi ích hợp lý và giao tổng thầu công nghệ để thu hút tinh hoa khoa học và công nghệ toàn cầu tham gia.
Vừa qua, việc triển khai chương trình công nghệ chiến lược chưa được như mong muốn do cách tiếp cận và thiết kế chương trình, chứ không phải do thể chế. Tuy nhiên qua chín tháng vừa rồi đã hình thành con đường và cách thiết kế hiệu quả hơn để thời gian tới sẽ có sự thay đổi về chất. 10 công nghệ chiến lược được Hà Nội ưu tiên nghiên cứu trong thập kỷ tới. Các bài viết liên quan như Công viên Phần mềm Quang Trung làm nơi thí điểm công nghệ chiến lược Made by Ho Chi Minh City và phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển công nghệ chiến lược đúng thời điểm. Các từ khóa: Bộ Khoa học và Công nghệ, công nghệ, công nghệ chiến lược, doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo, kinh tế số