Nguồn cung cát san lấp thiếu hơn 200 triệu m³, trong khi giá vật liệu xây dựng biến động mạnh, đang gây sức ép lên tiến độ thi công và chi phí các dự án giao thông. Những hợp đồng chưa phù hợp với diễn biến thị trường có thể khiến nhà thầu chịu rủi ro tài chính, thậm chí thua lỗ.
Tình trạng thiếu hụt vật liệu san lấp cùng với giá đầu vào tăng đang trở thành thách thức đối với nhiều dự án xây dựng, đặc biệt là các công trình giao thông trọng điểm. Không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ, những biến động này còn làm thay đổi phương án tài chính của nhà thầu so với thời điểm ký kết hợp đồng.

Theo Vietnam Plus, ông Đàm Đức Biên, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng cho hay, nguồn cung cát san lấp hiện chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Số liệu thống kê của Bộ Xây dựng cho thấy, tổng nhu cầu cát san lấp vượt 600 triệu m³, trong khi khả năng cung ứng chỉ đạt khoảng 394,5 triệu m³, tương đương mức thiếu hụt hơn 200 triệu m³.
Ngược lại, nguồn đất san lấp có khả năng đáp ứng nhu cầu chung. Với nhu cầu khoảng 758 triệu m³, lượng đất có thể cung ứng đạt khoảng 1.158 triệu m³, cao hơn nhu cầu gần 400 triệu m³. Tuy nhiên, nguồn đất dư thừa không đồng nghĩa có thể thay thế hoàn toàn cát tại các công trình, bởi việc sử dụng còn phụ thuộc vào yêu cầu kỹ thuật và điều kiện thi công của từng dự án.
Áp lực thiếu cát thể hiện ở cả ba nhóm công trình trong năm 2026. Các dự án giao thông trọng điểm do Bộ Xây dựng làm chủ đầu tư thiếu hơn 73 triệu m³; nhóm công trình giao thông trọng điểm do địa phương làm chủ đầu tư thiếu gần 58 triệu m³; các công trình khác của địa phương thiếu gần 80 triệu m³.
“Áp lực về nguồn cung cát san lấp vẫn rất lớn nhất là trong bối cảnh nhu cầu vật liệu phục vụ các dự án hạ tầng giao thông và xây dựng tiếp tục ở mức cao,” ông Biên đánh giá.
Bên cạnh khó khăn về nguồn cung, việc cập nhật giá vật liệu xây dựng tại một số địa phương cũng chưa theo kịp diễn biến thị trường. Theo ông Biên, căn cứ Luật Giá, vật liệu xây dựng không thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ bình ổn giá. Theo quy định pháp luật về xây dựng, sở xây dựng các địa phương có trách nhiệm khảo sát, thu thập thông tin và công bố giá vật liệu định kỳ theo tháng hoặc quý, phù hợp với tình hình thực tế.
Thời gian qua, Bộ Xây dựng đã tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều công điện nhằm tăng cường quản lý và điều hành giá. Dù vậy, một số chủ đầu tư và nhà thầu cho biết giá công bố tại địa phương chưa phản ánh sát mức giao dịch trên thị trường. Nguyên nhân chủ yếu là giá một số loại vật liệu thay đổi nhanh, trong khi hoạt động khảo sát, thu thập dữ liệu và công bố giá ở một số nơi chưa được cập nhật kịp thời.
Để khắc phục hạn chế này, Bộ Xây dựng đã có nhiều văn bản yêu cầu các địa phương chấn chỉnh công tác quản lý giá, đồng thời tổ chức kiểm tra và làm việc trực tiếp nhằm nâng cao chất lượng khảo sát, bảo đảm thông tin công bố sát hơn với thực tế.
Theo ông Biên, biến động giá vật liệu cũng cho thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn loại hợp đồng xây dựng phù hợp ngay từ đầu. Bộ Xây dựng đã nhiều lần lưu ý chủ đầu tư cần xem xét đặc điểm, quy mô gói thầu và dự báo diễn biến thị trường trước khi quyết định cơ chế hợp đồng, qua đó hạn chế rủi ro khi chi phí đầu vào thay đổi.
“Thực tế, một số chủ đầu tư vẫn lựa chọn loại hợp đồng chưa phù hợp với tính chất gói thầu và diễn biến giá cả. Điều này khiến nhà thầu phải đối mặt với rủi ro tài chính, thậm chí thua lỗ khi chi phí đầu vào tăng mạnh,” Phó Cục trưởng Cục Kinh tế quản lý đầu tư xây dựng thông tin với báo chí.
Đối với những hợp đồng bị tác động bởi biến động giá, pháp luật về xây dựng đã có quy định xử lý trong trường hợp bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tuy nhiên, việc áp dụng không thể thực hiện đồng loạt mà phải căn cứ mức độ ảnh hưởng thực tế đối với từng hợp đồng. Chủ đầu tư và nhà thầu cần cùng đánh giá tình hình, xác định phương án xử lý phù hợp và bảo đảm tuân thủ quy định hiện hành.
Với đề xuất chuyển từ phương pháp điều chỉnh giá theo chỉ số giá sang bù trừ trực tiếp, ông Biên cho biết các bên có thể xem xét thay đổi phương pháp nếu mức biến động đáp ứng điều kiện áp dụng theo quy định. Quá trình này có thể bao gồm việc rà soát lại dữ liệu giá và cách thức điều chỉnh để phản ánh phù hợp hơn chi phí thực tế.
Dù vậy, việc chuyển đổi phương pháp tính giá không được thực hiện tự động. Các bên tham gia hợp đồng phải đánh giá cụ thể mức độ biến động, căn cứ dữ liệu liên quan và thống nhất phương án xử lý trong khuôn khổ pháp luật.
Trong bối cảnh nhiều dự án hạ tầng tiếp tục cần khối lượng vật liệu lớn, việc bảo đảm nguồn cung cát, cập nhật giá sát thị trường và lựa chọn cơ chế hợp đồng phù hợp có ý nghĩa quan trọng đối với tiến độ cũng như hiệu quả tài chính của công trình. Nếu những vấn đề này không được xử lý kịp thời, nhà thầu sẽ tiếp tục chịu sức ép từ chi phí đầu vào, còn chủ đầu tư có thể gặp khó khăn trong tổ chức thi công và kiểm soát tổng mức chi phí dự án.