Thịt bò H’Mông tại Tuyên Quang phát triển thành sản phẩm đặc sản bán tới 1,2 triệu đồng/kg. Hướng tới đưa giống bò bản địa trở thành thương hiệu thịt bò chất lượng cao của Việt Nam.
Thịt bò H’Mông giá cao vẫn hút khách, nguồn cung hạn chế
Bò H’Mông, còn được gọi là bò Mèo, bò u Cao Bằng hoặc bò Đồng Văn, là giống bò bản địa gắn bó lâu đời với đời sống của người dân các tỉnh miền núi phía Bắc. Điểm khác biệt của giống bò này là khả năng hình thành vân mỡ tự nhiên trong thớ thịt, tạo độ mềm và hương vị đặc trưng.
Tại Tuyên Quang, Hợp tác xã Cát Lý đang phát triển mô hình liên kết chăn nuôi, chế biến và tiêu thụ thịt bò H’Mông. Hợp tác xã hiện liên kết với khoảng 1.000 hộ nông dân, quản lý tổng đàn hơn 4.000 con. Đơn vị cũng đầu tư cơ sở giết mổ, ký hợp đồng bao tiêu bò cho người chăn nuôi và đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị, cửa hàng bán lẻ.
Từ tháng 7/2026, hợp tác xã phối hợp với các nhà đầu tư mở nhà hàng bò H’Mông trên phố Thuận An, khu vực Gia Lâm, Hà Nội. Sau khoảng ba tháng hoạt động, nhà hàng ghi nhận lượng khách đáng chú ý, trong đó phần thịt vân mỡ trở thành sản phẩm được nhiều thực khách tìm mua.

Theo đại diện Hợp tác xã Cát Lý, thịt bò vân mỡ Thượng Vân có giá lên tới 1,2 triệu đồng/kg khi chế biến thành món nướng tại bàn. Món phở bát đá Thượng Vân được bán với giá 159.000 đồng/bát. Trong khi đó, các phần thịt bò H’Mông khác có giá khoảng 600.000–710.000 đồng/kg, cao hơn mặt bằng thị trường từ 40–50% theo thông tin được công bố.
Ngoài các món ăn tại nhà hàng, thị trường còn có sản phẩm chế biến sẵn như set lẩu bò H’Mông giá 655.000 đồng, phục vụ khoảng 4–6 người. Việc phát triển nhiều hình thức tiêu thụ giúp sản phẩm tiếp cận cả nhóm khách hàng dùng bữa tại nhà hàng lẫn các gia đình có nhu cầu mua thực phẩm chất lượng cao về chế biến tại nhà.
Tuy nhiên, nguồn cung thịt vân mỡ vẫn còn hạn chế. Theo đại diện hợp tác xã, phần thịt này chỉ chiếm vài phần trăm trọng lượng mỗi con bò, khiến lượng sản phẩm thu được không lớn trong khi nhu cầu trải nghiệm của khách hàng tăng. Một số khách phải đặt trước để mua được phần thịt mong muốn.
Tuyên Quang phát triển chuỗi giá trị, hướng tới thương hiệu quốc gia
Theo Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Tuyên Quang, địa phương hiện có tổng đàn bò gần 197.000 con, trong đó bò H’Mông chiếm khoảng 105.000 con. Đây là nguồn lực quan trọng để phát triển sản phẩm thịt bò đặc sản, đồng thời tạo thêm cơ hội sinh kế cho người dân vùng cao.
Bên cạnh lợi thế về giống bản địa, việc cải thiện chất lượng thịt thông qua quy trình chăn nuôi đang được chú trọng. Theo thông tin từ cơ quan chuyên môn, sau khi tiếp nhận tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc và thử nghiệm khẩu phần thức ăn riêng, bò H’Mông tại Tuyên Quang bước đầu ghi nhận tỷ lệ mỡ giắt cao hơn so với phương thức nuôi bằng nhóm thức ăn truyền thống.
Để phát triển sản phẩm theo hướng hàng hóa chất lượng cao, tỉnh đề xuất tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, tập huấn quy trình chăn nuôi và xây dựng chương trình chọn lọc, cải tạo giống. Việc kiểm soát sức khỏe đàn bò, theo dõi mã số từng con và truy xuất nguồn gốc cũng góp phần tạo cơ sở cho việc quản lý chất lượng xuyên suốt chuỗi cung ứng.
Ở cấp độ ngành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đưa nhiệm vụ nghiên cứu, chọn tạo giống bò H’Mông phục vụ sản xuất thịt chất lượng cao vào kế hoạch triển khai Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị. Cơ quan chuyên môn đồng thời phối hợp với các chuyên gia tham khảo phương pháp phân loại, xếp hạng chất lượng thịt bò của Nhật Bản và Hàn Quốc để xây dựng khung tiêu chuẩn phù hợp.
Theo đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y, việc phát triển thương hiệu thịt bò H’Mông cần sự phối hợp lâu dài giữa cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp và người chăn nuôi. Trong đó, chuyển từ phương thức sản xuất dựa chủ yếu vào kinh nghiệm sang tổ chức chăn nuôi theo chuỗi, ứng dụng công nghệ và kiểm soát chất lượng là những yêu cầu quan trọng để duy trì tính đồng đều của sản phẩm.
Từ mô hình liên kết chăn nuôi đến nhà hàng chuyên biệt và các kênh phân phối hiện đại, thịt bò H’Mông đang từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên, để trở thành thương hiệu quốc gia, sản phẩm cần tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn chất lượng, bảo đảm nguồn cung ổn định và xây dựng hệ thống nhận diện đủ sức phân biệt trên thị trường thịt bò chất lượng cao.