Nhận tin tức, cập nhật và báo cáo tiền điện tử mới nhất bằng cách đăng ký nhận bản tin miễn phí của chúng tôi.
Giấy phép số 4978/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 14 tháng 10 năm 2019 / Giấy phép SĐ, BS GP ICP số 2107/GP-TTĐT do Sở TTTT Hà Nội cấp ngày 13/7/2022.
© 2026 Index.vn
Ngày 4/4, tại Việt Nam diễn ra hội thảo khoa học quốc tế về giác mạc sinh học do VGCT (thành viên Tập đoàn CT Group) phối hợp cùng Hội Nhãn khoa Việt Nam và ACRO Biomedical tổ chức. Tại sự kiện, các chuyên gia nhấn mạnh kỳ vọng vật liệu y sinh tiên tiến sẽ mở rộng các lựa chọn thay thế trong điều trị bệnh lý giác mạc, trong bối cảnh nhu cầu ghép giác mạc tăng nhưng nguồn giác mạc hiến tặng còn hạn chế.
Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Tôn Thị Kim Thanh, Chủ tịch Hội Nhãn khoa Việt Nam, cho biết việc phát triển và ứng dụng vật liệu y sinh không chỉ mang ý nghĩa công nghệ mà còn hướng tới sự chủ động trong thay thế giác mạc người trong thực hành lâm sàng, đặc biệt khi nguồn giác mạc hiến tặng hiện vẫn còn nhiều hạn chế.
Bà cũng nhấn mạnh vai trò then chốt của sự phối hợp chặt chẽ giữa các bệnh viện mắt, các chuyên gia giác mạc và các đơn vị nghiên cứu. Theo đó, việc hình thành một mạng lưới chuyên môn đồng bộ được kỳ vọng sẽ rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng lâm sàng, đồng thời bảo đảm tính an toàn và hiệu quả cho người bệnh.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới và Báo cáo Thị lực Thế giới năm 2019, mù lòa do bệnh lý và tổn thương giác mạc là nguyên nhân gây mù đứng thứ năm toàn cầu. Trong đó, ghép giác mạc hiện vẫn là lựa chọn điều trị cuối cùng nhằm phục hồi thị lực cho người bệnh.
Trên thế giới, có hơn 12 triệu người mắc các bệnh lý liên quan đến giác mạc đang chờ được ghép. Tại Việt Nam, dù chưa có số liệu thống kê chính thức về tổng số bệnh nhân cần ghép giác mạc, ông Vương Ánh Dương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh cho biết ước tính có trên 300.000 người bị mất thị lực do các bệnh lý giác mạc. Riêng tại Bệnh viện Mắt Trung ương, số bệnh nhân chờ ghép cũng lên tới hàng nghìn trường hợp.
Thực tiễn điều trị đặt ra nhiều thách thức lớn khi nhu cầu ghép giác mạc ngày càng tăng, trong khi nguồn giác mạc hiến tặng vẫn hạn chế. Nhiều bệnh nhân phải chờ đợi kéo dài, thậm chí mất cơ hội điều trị. Bên cạnh đó, một số trường hợp bệnh lý nặng như bỏng mắt, tổn thương bề mặt nhãn cầu phức tạp hoặc thất bại ghép nhiều lần khiến phương pháp ghép truyền thống không còn là giải pháp tối ưu.
Trước nhu cầu cấp thiết về giải pháp thay thế, các hướng tiếp cận mới trong nhãn khoa hiện đại đang được nghiên cứu và ứng dụng trên thế giới, bao gồm giác mạc nhân tạo và vật liệu sinh học. Những tiến bộ này được kỳ vọng mở ra lựa chọn cho nhóm bệnh nhân trước đây gần như không còn phương án điều trị hiệu quả, đồng thời giúp chủ động nguồn vật liệu thay thế và nâng cao khả năng tiếp cận điều trị.
Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh cũng cho biết Bộ Y tế đã tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép lưu hành đối với sản phẩm giác mạc sinh học. Hiện sản phẩm đang trong quá trình xem xét cấp số để lưu hành tại Việt Nam.
Bà Đặng Thị Tươi, Phó Tổng Giám đốc Công ty VGCT, khẳng định giác mạc sinh học là lĩnh vực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa mang giá trị khoa học – y học, vừa mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc và tầm chiến lược quốc gia. Theo bà, đây được xem là giải pháp đột phá nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm nguồn hiến giác mạc, mở ra cơ hội phục hồi thị lực cho hàng triệu bệnh nhân, đồng thời tạo nền tảng để Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ y sinh tiên tiến.
Bà cũng cho rằng nếu được triển khai ở quy mô quốc gia với sự tham gia đồng bộ của “ba nhà” (Nhà nước – doanh nghiệp – viện, trường – PV), lĩnh vực này có thể trở thành một trong những động lực đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao và y sinh.
Việc ứng dụng công nghệ mới, giảm phụ thuộc vào nguồn giác mạc hiến tặng, được kỳ vọng không chỉ mở lại cơ hội nhìn thấy cho người bệnh mà còn góp phần nâng cao chất lượng sống. Đồng thời, lĩnh vực này được kỳ vọng tạo ra giá trị kinh tế đáng kể, với ước tính đóng góp khoảng 0,3–0,4% vào tăng trưởng khi một bộ phận người mất thị lực có thể quay trở lại lực lượng lao động.