Nhận tin tức, cập nhật và báo cáo tiền điện tử mới nhất bằng cách đăng ký nhận bản tin miễn phí của chúng tôi.
Giấy phép số 4978/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 14 tháng 10 năm 2019 / Giấy phép SĐ, BS GP ICP số 2107/GP-TTĐT do Sở TTTT Hà Nội cấp ngày 13/7/2022.
© 2026 Index.vn
Tại Triển lãm Quốc tế Công nghiệp Việt Nam 2025 (VIET INDUSTRY 2025), TS. Nguyễn Quân – Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam – nhấn mạnh yêu cầu đầu tư lớn cho phát triển khoa học công nghệ, trong đó phần từ ngân sách nhà nước cần đạt tối thiểu 3% tổng chi ngân sách hằng năm, đồng thời song song với nguồn lực từ xã hội.
Ông Quân cho biết mục tiêu đến năm 2030, mức đầu tư cho khoa học công nghệ đạt khoảng 2% GDP quốc gia là một thách thức lớn. Theo ông, Hàn Quốc mất 40 năm và Trung Quốc mất 30 năm để đạt mức đầu tư tương đương 2% GDP cho khoa học công nghệ. Với Việt Nam, thời gian còn lại để đạt mục tiêu này được tính là 5 năm, đồng nghĩa việc phải hoàn thành quãng đường mà các nền kinh tế Đông Á từng mất 30–40 năm trong thời gian ngắn hơn.
Về động lực thực hiện, TS. Nguyễn Quân cho rằng kết quả phụ thuộc vào mức độ quan tâm và đầu tư của khối doanh nghiệp, không chỉ doanh nghiệp nhà nước mà là toàn bộ hệ thống doanh nghiệp. Về lâu dài, ông nhận định doanh nghiệp tư nhân sẽ trở thành nguồn đầu tư lớn nhất cho phát triển khoa học và công nghệ.
Theo nội dung được nêu tại sự kiện, Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 với nhiều chỉ tiêu cụ thể về tiềm lực, trình độ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó có các nhóm mục tiêu nổi bật:
Nội dung nêu rõ mục tiêu kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%. Đồng thời, bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển.
Về tổ chức, hệ thống khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo được sắp xếp lại nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu – ứng dụng – đào tạo.
Nghị quyết cũng đưa ra các chỉ tiêu về nguồn nhân lực và kết quả hoạt động nghiên cứu, phát triển, gồm:
Về hạ tầng, nội dung đề cập định hướng phát triển hạ tầng công nghệ số tiên tiến, hiện đại, dung lượng siêu lớn, băng thông siêu rộng ngang tầm các nước tiên tiến. Đồng thời, Việt Nam từng bước làm chủ một số công nghệ chiến lược và công nghệ số như trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối, bán dẫn, công nghệ lượng tử, nano, thông tin di động 5G, 6G, thông tin vệ tinh và một số công nghệ mới nổi.
Các mục tiêu triển khai cụ thể gồm: phủ sóng 5G toàn quốc; hoàn thành xây dựng đô thị thông minh đối với các thành phố trực thuộc Trung ương và một số tỉnh, thành phố có đủ điều kiện.
Để bảo đảm nguồn lực thực hiện các mục tiêu, nội dung nêu rõ định hướng thu hút thêm ít nhất 3 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu và sản xuất tại Việt Nam.