Nhận tin tức, cập nhật và báo cáo tiền điện tử mới nhất bằng cách đăng ký nhận bản tin miễn phí của chúng tôi.
Giấy phép số 4978/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 14 tháng 10 năm 2019 / Giấy phép SĐ, BS GP ICP số 2107/GP-TTĐT do Sở TTTT Hà Nội cấp ngày 13/7/2022.
© 2026 Index.vn
Ngày 18/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Cà Mau đưa vụ án dân sự số 263/2025/DS-PT ra xét xử phúc thẩm liên quan tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà N. và vợ chồng ông D.
Theo lời khai của bà N. (quê ở Cà Mau), bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích trên 40.000 m2 vào năm 2003. Năm 2004, bà cho vợ chồng ông D. mượn khoảng 5.500 m2 đất theo thỏa thuận miệng, với nội dung khi bà cần sử dụng lại thì vợ chồng ông D. phải trả đất.
Khi bà N. yêu cầu vợ chồng ông D. di dời nhà và cây trồng để trả lại phần đất đã cho mượn, phía ông D. không chấp nhận. Kết quả đo đạc thực tế xác định diện tích đất tranh chấp do vợ chồng ông D. quản lý gần 3.400 m2. Bà N. khởi kiện đòi lại phần đất này và không chấp nhận yêu cầu tính chi phí di dời.
Vợ chồng ông D. cho rằng phần đất tranh chấp có nguồn gốc từ việc họ khai hoang từ những năm 1990 và được cấp đất để sử dụng từ năm 1992–1993. Họ khẳng định chưa từng mượn đất của bà N. và không biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N. cho đến khi phát sinh tranh chấp vào năm 2023.
Ông D. cũng trình bày rằng trước đây vợ chồng họ từng thực hiện giao dịch khai hoang với người khác, nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với nội dung này.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N. được cấp hợp pháp, bao gồm phần diện tích tranh chấp. Tuy nhiên, do vợ chồng ông D. đã sử dụng đất liên tục lâu dài và có xây dựng nhà ở, tòa không buộc trả lại đất mà áp dụng hình thức bồi thường giá trị quyền sử dụng đất.
Cụ thể, bản án sơ thẩm buộc vợ chồng ông D. thanh toán cho bà N. hơn 132 triệu đồng, tương ứng giá trị diện tích khoảng 3.400 m2. Đồng thời, vợ chồng ông D. được tiếp tục quản lý, sử dụng và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Bà N. kháng cáo cho rằng phần đất tranh chấp đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp từ năm 1997 và được cấp đổi năm 2003. Bà cho rằng việc án sơ thẩm chỉ đòi trả 40% giá trị đất là chưa thỏa đáng, nên yêu cầu trả lại đất theo thực tế.
Về phía vợ chồng ông D., họ cho rằng quá trình tố tụng cấp sơ thẩm chưa có sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan và khẳng định việc sử dụng đất ổn định trong nhiều năm.
Sau khi xem xét, Tòa phúc thẩm tỉnh Cà Mau cho rằng dù bà N. có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, nhưng bà không chứng minh được việc trực tiếp quản lý, sử dụng đất hay cho mượn đất đúng như trình bày. Trong khi đó, vợ chồng ông D. đã sử dụng đất liên tục từ năm 1993 và có công cải tạo, xây dựng, nuôi trồng thủy sản.
Tòa phúc thẩm nhận định việc buộc vợ chồng ông D. trả lại 40% giá trị quyền sử dụng đất (tương đương hơn 132 triệu đồng) là phù hợp để cân bằng quyền lợi hợp pháp của bà N. với công sức khai thác, sử dụng đất của vợ chồng ông D. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu đòi lại đất.
Tòa phúc thẩm đã giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc vợ chồng ông D. thanh toán giá trị đất cho bà N. và cho phép họ tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.